Bouvard và Pécuchet

  • Gustave Flaubert
  • 15617 chữ
  • 0
  • 2026-09-23 17:07

Chương 2

Sáng hôm sau tỉnh giấc, ôi chao là vui sướng! Bouvard rít một hơi tẩu, Pécuchet hít một mũi thuốc bột; hai ông cùng khẳng định đó là cữ thuốc ngon nhất đời mình. Rồi hai ông ra đứng bên bậu cửa sổ, phóng tầm mắt ngắm nghía giang sơn.
Trước mặt là cánh đồng mênh mông, bên phải có kho thóc cùng tháp chuông nhà thờ, bên trái rủ một bức màn cây dương rậm rạp.
Hai lối đi chính giao nhau thành hình chữ thập, chia mảnh vườn làm bốn khoảnh. Rau cỏ trồng trong các luống hẹp; dọc lối đi, những cây bách lùn và cây tỉa hình bắp sợi vươn lên rải rác. Một bên vườn, giàn dây leo dẫn lối đến gò đất trồng nho; bên kia, bức tường cao đỡ lấy những hàng cây ăn quả uốn dạng quạt. Và tận cuối vườn, một ô cửa chấn song thưa nhìn thẳng ra cánh đồng. Bên kia tường là vườn cây ăn quả, qua rặng cây trăn tới một lùm cây nhỏ, phía sau cửa chấn song thưa có con đường mòn chạy qua.
Hai ông còn mải mê chiêm ngưỡng toàn cảnh thì một người đàn ông tóc chớm bạc, mình bận chiếc áo khoác đen, rảo bước dọc đường mòn, tay cầm gậy gõ loảng xoảng vào từng thanh chấn song. Bà người hầu già cho hai ông hay đó là ông Vaucorbeil, viên bác sĩ nổi danh khắp vùng.
Giới quyền thế địa phương nơi đây còn có bá tước De Faverges, cựu nghị sĩ, người có tiếng tăm lừng lẫy với các trại bò sữa; viên thị trưởng Foureau chuyên buôn gỗ, thạch cao và đủ thứ tạp hóa; ngài công chứng viên Marescot; linh mục Jeufroy; và bà góa Bordin, người sống bằng tiền sản nghiệp. Về phần bà lão hầu già, người ta gọi bà là Germaine, gọi theo tên người chồng quá cố Germain. Mụ làm thuê theo ngày nhưng lại muốn vào hầu hạ hai ông chủ mới. Hai ông ưng thuận, rồi lên đường tới trang trại của mình, cách nhà chừng một cây số.
Vừa bước vào sân, hai ông đã nghe tiếng lão tá điền, lão Gouy, đang quát tháo một chú bé làm thuê; trong lúc đó, vợ lão ngồi trên chiếc ghế đẩu, hai chân kẹp chặt một con gà tây, ra sức nhồi những viên bột đại mạch vào họng nó. Lão đàn ông mang vầng trán thấp, sống mũi thanh, ánh mắt nhìn lấm lét dạt ngang nhưng đôi vai lại thô khỏe vạm vỡ. Người vợ tóc vàng hoe, đôi gò má lấm chấm tàn nhang, mang nét mặt chất phác hệt như đám thảo dân vẽ trên ô cửa kính màu của giáo đường.
Trong gian bếp, những bó cây gai dầu treo lủng lẳng trên trần nhà. Ba khẩu súng kíp cũ xếp thành hàng trên bệ lò sưởi cao. Một chiếc chạn đầy bát đĩa gốm hoa đặt ngay chính giữa bức tường; những ô kính cửa sổ dày như đáy chai hắt thứ ánh sáng bủng beo lên đám đồ dùng bằng thiếc và đồng đỏ.
Hai người khách Paris muốn đi thị sát toàn bộ trang trại, bởi lần trước họ mới chỉ ngó qua loa. Lão Gouy cùng vợ đi tháp tùng; thế là một tràng ta thán dài lê thê cất lên.
Mọi công trình, từ nhà để xe cộ đến lò nấu rượu, thảy đều cần đại tu. Lại phải xây thêm một gian nhà phụ để ủ pho mát, thay phần sắt đai mới cho các cánh cổng, tôn cao bờ rào, khơi sâu ao trữ nước và trồng lại cả loạt táo trong ba khoảnh sân.
Tiếp đến, hai ông đi thăm các đám ruộng. Lão Gouy không tiếc lời chê bai. Đất đai ngốn quá nhiều phân chuồng; chi phí kéo xe thì đắt đỏ; đá cuội bới không xuể, cỏ dại lại mọc làm hỏng hết cả đồng cỏ tươi. Những lời gièm pha điền sản ấy làm giảm đi phần nào niềm hoan hỉ của Bouvard khi đặt chân lên mảnh đất thuộc quyền sở hữu của chính mình.
Hai ông theo con đường lún trở về, đi dưới rặng cây dẻ gai rợp bóng. Ngôi nhà phô diễn mặt tiền và khoảnh sân chính từ phía này.
Tường nhà sơn trắng, các đường gờ phào tô điểm sắc vàng. Nhà kho và hầm rượu, lò bánh và kho củi nối tiếp nhau tạo thành hai dãy cánh đầu hồi thấp hơn. Gian bếp thông với một phòng ăn nhỏ. Kế đó là lối sảnh vào, một phòng ăn thứ hai rộng hơn, rồi đến phòng khách. Bốn phòng ngủ ở tầng trên cùng mở ra một hành lang dài trông xuống sân. Pécuchet giữ một phòng để bày biện các bộ sưu tập của mình; căn phòng cuối cùng được dành làm thư viện. Lúc mở các tủ đứng, hai ông tìm thấy vài cuốn sách cũ, nhưng chẳng ai buồn ngó nghiêng xem tựa đề. Việc cấp bách nhất bây giờ là mảnh vườn.
Khi đi ngang qua rặng cây trăn, Bouvard phát hiện một pho tượng đàn bà bằng thạch cao lấp ló dưới tán lá. Bức tượng dùng hai ngón tay vén vạt váy, đầu gối hơi chùng, đầu nghiêng trên vai, dáng vẻ như thể sợ bị ai bắt gặp.
"Ồ! Xin lỗi nhé! Cứ tự nhiên cho!"
Trò đùa ấy làm hai ông thích thú đến nỗi suốt hơn ba tuần lễ, mỗi ngày họ đều nhắc lại tới hai chục bận.
Tuy vậy, đám thị dân vùng Chavignolles lại ngứa ngáy muốn dò xét hai ông; họ cứ đến dòm ngó qua ô cửa chấn song thưa. Hai ông bèn dùng ván gỗ bịt kín các khoảng hở lại. Dân làng thấy vậy thì đâm ra bực dọc.
Để che cái nắng gay gắt, Bouvard quấn một chiếc khăn tay trên đầu thành hình mũ khăn quấn Ấn Độ, còn Pécuchet đội chiếc mũ lưỡi trai của mình; ông bận chiếc tạp dề lớn có cái túi rộng phía trước, bên trong lóc xóc một chiếc kéo tỉa cây, chiếc khăn túi cùng hộp thuốc lá bột. Để trần cánh tay và kề vai sát cánh, hai ông hết cày xới, làm cỏ lại tỉa cành; họ tự giao chỉ tiêu công việc, ăn uống thật chớp nhoáng; rồi lên tận gò trồng nho thưởng thức cà phê nhằm tận hưởng tầm nhìn quang đãng.
Hễ chạm mặt một con ốc sên, hai ông liền tiến lại gần, nhăn mép nghiến răng giẫm bẹp gí nó như thể đập vỡ một quả hạch. Hai ông chẳng bao giờ ra ngoài mà không mang theo chiếc xẻng bản nhỏ; họ chặt đôi đám sùng trắng mạnh đến nỗi lưỡi sắt lún sâu xuống đất tới ba tấc. Để diệt trừ lũ sâu bướm, hai ông cầm sào dài nện vào thân cây, quật túi bụi đầy giận dữ.
Bouvard trồng một khóm mẫu đơn ngay giữa thảm cỏ, rồi trồng thêm mấy gốc cà chua quả lớn, mong sao chúng sẽ rủ xuống như đèn chùm dưới vòm giàn leo.
Pécuchet cho đào một cái hố lớn ngay trước gian bếp, chia làm ba ngăn để ủ phân compost. Ông trù tính thứ phân này sẽ nuôi sống biết bao hoa màu, rồi phế phẩm của chúng lại đem lại những vụ mùa kế tiếp, cung cấp thêm nguồn phân bón mới, cứ thế tiếp diễn vô tận; ông đứng mơ mộng bên bờ hố, phóng tầm mắt thấy trước những núi trái cây, ngập tràn hoa cỏ, rau trái dồi dào như thác đổ. Ngặt nỗi, ông lại thiếu phân ngựa, thứ tối cần thiết cho các luống ủ ấm. Đám nhà nông chẳng ai thèm bán; chủ các quán trọ thì thẳng thừng từ chối. Cuối cùng, sau bao công sức tìm kiếm, bất chấp lời can ngăn của Bouvard, Pécuchet gạt bỏ mọi ngượng ngùng, quyết định đích thân đi nhặt phân ngựa ngoài đường lớn!
Chính giữa lúc đang lúi húi làm việc đó, bà Bordin tình cờ bắt gặp ông trên đường cái. Sau vài lời tán dương xã giao, bà hỏi thăm đến người bạn thân của ông. Đôi mắt đen rất sáng dù hơi nhỏ, cùng nước da hồng hào và vẻ bạo dạn của bà (bà thậm chí còn lún phún râu mép) làm Pécuchet thấy e dè. Pécuchet đáp cộc lốc rồi quay lưng đi thẳng; hành vi thô lỗ này bị Bouvard chê trách hồi lâu.
Rồi những ngày u ám cũng tới, tuyết rơi, giá rét căm căm. Hai ông thu mình trong gian bếp, cặm cụi đan hàng rào mắt cáo; hoặc giả đi bạt mạng qua các phòng, trò chuyện bên xó lò sưởi, ngồi ngắm mưa sa.
Ngay từ giữa mùa Chay, hai ông đã ngóng mùa xuân, sáng nào cũng lặp đi lặp lại: "Mọi thứ sắp đâm chồi rồi". Nhưng mùa vụ lại đến muộn; hai ông đành tự an ủi nỗi sốt ruột bằng câu: "Mọi thứ rồi sẽ đâm chồi thôi".
Cuối cùng, hai ông cũng thấy mấy cây đậu Hà Lan nhô lên. Măng tây cho thu hoạch rộ. Giàn nho hứa hẹn một mùa bội thu.
Đã thông thạo việc làm vườn thì ắt phải gặt hái thành công trong nghề nông nghiệp; tham vọng canh tác toàn bộ trang trại bùng lên trong lòng hai ông. Có lòng suy xét thấu đáo lại chịu khó nghiên cứu, hai ông tin chắc mình sẽ xoay xở ổn thỏa.
Trước tiên, cần mục kích xem người khác canh tác ra sao; hai ông bèn soạn một phong thư, kính xin bá tước De Faverges cho phép ghé thăm trang trại mẫu của ngài. Vị bá tước chấp thuận ngay, hẹn gặp hai ông lập tức.
Sau một giờ đi bộ, họ đến sườn một quả đồi nhỏ nhìn xuống thung lũng sông Orne. Con sông chảy uốn lượn dưới đáy thung lũng. Những khối đá sa thạch đỏ dựng đứng rải rác đây đó; phía xa, các mỏm đá lớn hơn tạo thành bờ vách dựng đứng cheo leo trên cánh đồng lúa mì chín vàng rực. Phía đối diện, trên ngọn đồi bên kia, cây cối xanh tươi rậm rạp đến nỗi che khuất cả nếp nhà. Những hàng cây chia khoảnh đất thành các ô vuông không đều nhau, nổi bật giữa thảm cỏ bằng những vệt xanh thẫm màu.
Toàn bộ điền trang bỗng chốc hiện ra trước mắt. Những mái ngói đỏ định vị khu trang trại. Tòa lâu đài mặt tiền trắng toát nằm bên phải, phía sau là một cánh rừng nhỏ; thảm cỏ xanh mướt trải dài xuống tận bờ sông, nơi những hàng cây tiêu huyền soi bóng nước thẳng tắp.
Hai người bạn bước vào một cánh đồng cỏ linh lăng đang độ phơi cỏ khô. Đám đàn bà đội mũ rơm, quấn khăn vải bông hoặc che mái giấy, tay cầm cào lật tung đám cỏ đang rải dưới đất; ở đầu kia cánh đồng, bên cạnh những đống cỏ cao, người ta thoăn thoắt quăng những bó cỏ lên chiếc xe kéo lớn do ba thớt ngựa kéo. Vị bá tước rảo bước tiến lại gần, có viên quản lý đi bám gót phía sau.
Ngài bận bộ đồ vải trúc bâu, vóc dáng cứng nhắc, bộ râu quai nón cắt tỉa gọn gàng như miếng sườn cốt lết; ngài mang thần thái của một vị thẩm phán hòa lẫn vẻ lịch lãm của một tài tử chải chuốt. Các nét mặt của ngài, ngay cả khi phát ngôn, vẫn bất động không chút chuyển biến.
Sau vài lời chào hỏi xã giao ban đầu, ngài thuyết trình về hệ thống sấy cỏ của mình: phải lật các luống cỏ mà không được làm tán loạn, các đống cỏ phải có hình nón, các bó cỏ cần buộc ngay tại trận rồi xếp thành từng cụm mười bó. Còn về chiếc máy cào kiểu Anh, ngài cho rằng đồng cỏ này quá mấp mô, không thể dùng loại công cụ như vậy.
Một bé gái đi chân trần xỏ trong đôi giày cũ tả tơi, da thịt hở hang qua những vết rách trên váy, đang rót rượu táo từ một chiếc bình lớn tì bên hông để tiếp nước cho đám đàn bà. Vị bá tước tra hỏi đứa trẻ ấy từ đâu tới; chẳng ai rõ lai lịch nó. Đám thợ gặt nhặt nó về để sai vặt trong mùa gặt hái. Ngài nhún vai, vừa rảo bước ra xa vừa buông vài lời than thở về tình trạng suy đồi luân lý nơi thôn quê.
Bouvard lên tiếng tán dương cánh đồng cỏ linh lăng. Ngài nhận xét nó cũng khá tốt, dù bị nạn tơ hồng tàn phá ít nhiều; hai nhà nông học tương lai tròn xoe mắt khi nghe đến từ "tơ hồng". Gom cả số gia súc hiện có, ngài tập trung vào các đồng cỏ nhân tạo; đó là bước đệm tốt cho các vụ thu hoạch khác, điều không phải lúc nào cũng đạt được với các loại củ làm thức ăn gia súc. Ngài khẳng định: "Điều này chí ít đối với tôi là không thể bàn cãi".
Bouvard và Pécuchet đồng thanh tán thưởng:
"Ồ! Không thể bàn cãi."
Họ dừng chân bên rìa một thửa ruộng bằng phẳng, đất đai đã được làm tơi xốp kỹ lưỡng. Một thớt ngựa được dắt tay đang kéo chiếc thùng lớn đặt trên ba bánh xe. Bảy lưỡi cày xếp bên dưới vạch những đường rãnh nhỏ song song, hạt giống từ các ống dẫn thả xuống tận mặt đất.
"Ở đây," – Vị bá tước nói, – "tôi gieo củ cải Thụy Điển. Củ cải Thụy Điển là nền tảng cho lối canh tác luân canh bốn năm của tôi." Đoạn ngài bắt tay vào giảng giải cơ chế hoạt động của chiếc máy gieo hạt. Dẫu vậy, một gia nhân đã chạy tới tìm ngài; người ta đang cần ngài ở lâu đài.
Viên quản lý thay thế ngài hướng dẫn hai ông; gã có bộ mặt gầy gò láu cá, cử chỉ khúm núm cung kính.
Gã dẫn các ông tới một thửa ruộng khác, nơi mười bốn thợ gặt mình trần, chân xoạc rộng, đang dùng liềm cắt lúa mạch đen. Lưỡi sắt rít lên bôm bốp trong thân rơm rủ xuống bên phải. Mỗi người vạch trước mặt một vòng bán nguyệt lớn, tất cả đứng chung một hàng, cùng lúc tiến lên. Hai người khách Paris vô cùng ngưỡng mộ những cánh tay vạm vỡ ấy, lòng dâng lên niềm thành kính gần như thiêng liêng trước vẻ trù phú của đất đai.
Tiếp đó, họ đi dọc qua vài khoảnh đất đang cày bừa. Hoàng hôn buông xuống; lũ quạ sà xuống các luống cày.
Rốt cuộc họ chạm mặt đàn gia súc. Đám cừu gặm cỏ rải rác, tiếng nhai cỏ của chúng vang lên đều đặn liên tục. Gã chăn cừu ngồi trên một thân cây đổ, cặm cụi đan chiếc tất len, con chó chăn cừu phủ phục ngay bên cạnh.
Viên quản lý đỡ Bouvard và Pécuchet trèo qua một chiếc bờ dậu đứng; họ băng qua hai khu nhà kho cũ hoang phế, nơi đàn bò đang nhai lại dưới những gốc táo.
Mọi công trình trong trang trại đều xây liền kề nhau, chiếm trọn ba mặt khoảng sân lớn. Việc vận hành đều dùng máy móc, thông qua một tuabin nước tận dụng dòng suối đã được nắn dòng từ trước. Những dải băng truyền bằng da chạy từ mái nhà này sang mái nhà khác; ngay giữa đống phân chuồng, một chiếc bơm sắt đang chuyển động đều đặn.
Viên quản lý chỉ cho họ thấy những ô cửa nhỏ sát mặt đất trong chuồng cừu, và những cánh cửa thông minh trong chuồng lợn, có khả năng tự động sập lại.
Kho thóc có vòm cao hệt như một thánh đường, với những cuốn vòm bằng gạch tựa trên các bức tường đá kiên cố.
Để làm vui lòng hai vị khách, một cô hầu gái quăng vài nắm yến mạch trước đàn gà. Trục ép của máy ép rượu táo trông thật khổng lồ dưới mắt hai ông; họ trèo lên cả chuồng bồ câu. Gian phòng làm sữa đặc biệt làm hai ông kinh ngạc. Những vòi nước lắp nơi góc phòng cung cấp đủ lượng nước để xối rửa khắp các phiến đá lát nền; vừa bước vào, một luồng hơi mát lạnh đã ập đến bao phủ lấy cơ thể. Những chiếc hũ màu nâu xếp thành hàng trên các kệ thưa, sữa đong đầy tận miệng hũ. Các khuôn bơ nông hơn chứa đầy váng sữa. Những bánh bơ xếp nối tiếp nhau như khúc của những cột đồng đỏ; bọt sữa trào ra khỏi mép những chiếc xô thiếc vừa mới đặt trên nền đất.
Tuy vậy, báu vật của trang trại lại là chuồng bò. Những thanh gỗ đóng thẳng đứng dọc suốt chiều dài chia chuồng thành hai phần: phần đầu dành cho gia súc, phần sau phục vụ việc chăm sóc. Bên trong tối om vì mọi ô cửa lỗ châu mai đều đóng kín. Đàn bò đực ăn cỏ khi đang buộc xích; thân hình chúng tỏa ra luồng hơi nóng bị trần nhà thấp dội ngược trở lại. Có người vừa mở cửa cho ánh sáng lọt vào. Một dòng nước mát chợt chảy tràn vào máng dọc theo các rãnh ăn. Tiếng bò rống vang lên. Những cặp sừng va vào nhau lách cách như tiếng gậy gộc đập nhau. Toàn bộ đàn bò nghếch mõm qua các thanh gỗ, chậm rãi hớp từng ngụm nước.
Những cỗ xe kéo lớn tiến vào sân, đàn ngựa con hí vang. Ở tầng trệt, hai ba chiếc đèn lồng bật sáng rồi lại vụt tắt. Đám thợ làm việc đi qua đi lại, guốc mộc kéo sành sạch trên đá cuội; tiếng chuông báo bữa tối vang lên lanh lảnh.
Hai người khách ra về.
Mọi điều mắt thấy tai nghe đều làm hai ông say mê. Quyết định đã ban ra. Ngay tối hôm ấy, hai ông rút bốn tập cuốn Maison Rustique từ tủ sách, đặt mua giáo trình của Gasparin và đặt báo dài hạn một tờ tạp chí nông nghiệp.
Để tiện đường đi lại giữa các phiên chợ, hai ông sắm một chiếc xe mui trần nhỏ do Bouvard cầm lái.
Bận chiếc áo blouse xanh, đầu đội mũ rộng vành, chân xỏ xà cạp dài tận đầu gối, tay cầm cây gậy của gã buôn gia súc, hai ông lảng vảng quanh đàn vật nuôi, tra hỏi đám thợ cày, chẳng bỏ sót bất kỳ cuộc đấu giá nông nghiệp nào.
Chẳng mấy chốc, hai ông làm lão Gouy phát ngấy vì những lời khuyên răn, đặc biệt là việc hai ông lên án hệ thống bỏ hoang đất của gã. Nhưng gã tá điền cứ khăng khăng giữ nếp cũ. Gã ngỏ ý xin khất một kỳ hạn trả tiền thuê, lấy cớ bị mưa đá. Còn về các khoản tô thuế bằng hiện vật, gã không giao nộp đồng nào. Trước những lời đòi hỏi chính đáng nhất, vợ gã lại bù lu bù loa lên. Cuối cùng, Bouvard tuyên bố ý định chấm dứt hợp đồng thuê nhà đất.
Kể từ đó, lão Gouy cắt giảm hẳn lượng phân bón, thả mặc cho cỏ dại mọc đầy, làm kiệt quệ đất đai. Gã bỏ đi với bộ mặt hầm hầm dữ tợn, lộ rõ mưu đồ báo thù.
Bouvard từng tính toán rằng hai mươi ngàn franc, tức là gấp hơn bốn lần tiền thuê đất, sẽ đủ cho việc khởi sự. Viên công chứng ở Paris đã chuyển số tiền đó tới.
Điền trang của hai ông bao gồm mười lăm hécta sân vườn và đồng cỏ, hai mươi ba hécta đất canh tác, năm hécta đất hoang nằm trên một gò đồi đầy đá cuội mà người ta gọi là gò Butte.
Hai ông sắm sửa mọi nông cụ thiết yếu: bốn thớt ngựa, mười hai con bò cái, sáu con lợn, một trăm sáu mươi con cừu; về phần nhân sự, có hai gã đánh xe, hai mụ đàn bà, một gã gia nhân, một gã chăn cừu và thêm một con chó dữ lớn.
Để có tiền mặt ngay lập tức, hai ông đem bán toàn bộ số cỏ khô của mình; người ta tới tận nơi chồng tiền trả; những đồng vàng Napoléon đếm ngay trên thùng chứa hắc mạch trông óng ánh hơn hẳn thứ vàng khác, thật kỳ lạ và tuyệt vời làm sao.
Vào tháng Mười một, hai ông tiến hành ép rượu táo. Bouvard đảm nhiệm việc quất ngựa kéo trục quay, còn Pécuchet trèo hẳn vào trong bồn ép, dùng xẻng lật trở bã táo. Hai ông thở hổn hển khi siết chặt đai ốc, múc rượu vào thùng, canh chừng các lỗ thông hơi, chân xỏ đôi guốc mộc nặng trịch, lòng thấy vui thú vô cùng.
Xuất phát từ nguyên lý không thể có quá nhiều lúa mì, hai ông phá bỏ khoảng một nửa diện tích đồng cỏ nhân tạo; do không sẵn phân bón, hai ông dùng bánh dầu đem chôn xuống đất mà không thèm nghiền nhỏ, thành thử năng suất thu về thảm hại vô cùng.
Năm sau, hai ông gieo hạt quá dày. Giông bão ập đến. Những bông lúa mì ngã rạp xuống đất.
Dẫu vậy, hai ông vẫn khăng khăng bám lấy cây lúa mì; họ bắt tay vào việc dọn sạch đá cuội trên gò Butte; một chiếc xe cút kít gầm thấp chuyên chở đám đá đi nơi khác. Suốt cả năm trời, từ sáng sớm đến tối mịt, bất kể mưa sa nắng cháy, người ta cứ thấy chiếc xe cút kít muôn thuở ấy cùng một gã đàn ông và một thớt ngựa lầm lũi leo lên, hạ xuống rồi lại ngược lên ngọn đồi nhỏ. Đôi khi Bouvard rảo bước theo sau, dừng chân giữa dốc để lau mồ hôi trán.
Chẳng tin cậy một ai, hai ông tự tay chữa trị cho đàn vật nuôi, tự mình cho chúng uống thuốc xổ, thụt rửa ruột gan.
Những vụ bê bối nghiêm trọng bắt đầu xảy ra. Cô hầu gái chăn nuôi gia cầm mang thai bụng ễnh. Hai ông bèn tuyển mộ những người đã lập gia đình; thế là trẻ con nảy nở ra nhung nhúc, kéo theo cả loạt anh em họ hàng, cô dì chú bác, chị dâu em chồng. Cả một đám người sống bám vào tài sản của hai ông; hai ông bèn quyết định thay phiên nhau đến ngủ lại trang trại để canh chừng.
Tuy nhiên đến tối, lòng hai ông đâm ra trĩu nặng. Căn phòng bẩn thỉu làm họ chướng mắt; mụ Germaine mỗi lần mang cơm nước tới lại lầm bầm cằn nhằn. Hai ông bị lừa gạt đủ đường. Đám thợ đập lúa trong kho lén nhét lúa mì vào bình nước uống cá nhân. Pécuchet bắt quả tang một gã, bèn hét lên, đồng thời túm vai đẩy gã ra ngoài cửa:
"Đồ khốn nạn! Mày là nỗi ô nhục của cái làng đã sinh ra mày!"
Dù vậy, bản thân ông không dọa được ai. Vả lại, lòng ông lại dâng lên niềm hối hận đối với mảnh vườn. Toàn bộ quỹ thời gian của ông dành cho nó cũng chưa chắc đủ để giữ vườn tược ở trạng thái tốt. Bouvard sẽ đảm nhiệm việc trang trại. Hai ông bàn bạc kỹ lưỡng; việc phân công này đã được thống nhất.
Điểm mấu chốt đầu tiên là phải có những luống ủ ấm thật tốt. Pécuchet cho xây một luống bằng gạch kiên cố. Ông tự tay sơn các khung kính, sợ nắng gắt làm hỏng cây nên ông bôi phấn trắng xóa lên toàn bộ đám chuông kính che cây.
Ông cẩn thận ngắt bỏ phần ngọn cùng lá trên các cành giâm. Tiếp đó, ông chuyên tâm vào việc chiết cành. Ông thử nghiệm đủ lối ghép cây: ghép ống, ghép vỏ hình vương miện, ghép mắt, ghép cành non, ghép kiểu Anh. Với sự tỉ mẩn vô ngần, ông điều chỉnh hai lớp vỏ trong sao cho khít nhau, siết chặt các mối buộc, rồi trát từng tảng sáp ghép cây để phủ kín vết cắt!
Mỗi ngày hai bận, ông xách chiếc bình tưới cây lắc qua lắc lại trên đám cây non, hệt như đang dâng hương tế lễ. Khi đám cây dần xanh tươi dưới làn nước phun ra như mưa phùn, ông có cảm giác chính mình cũng được giải khát và hồi sinh cùng chúng. Thế rồi, đầu óc mê muội đi, ông giật phăng cái hoa sen của bình tưới, dốc thẳng cái vòi rồng xối xả tràn trề.
Ở cuối rặng cây trăn, ngay bên cạnh pho tượng đàn bà bằng thạch cao, mọc lên một căn lều nhỏ làm bằng những khúc gỗ tròn. Pécuchet đem cất giấu công cụ của mình vào đó; ông trải qua những giờ phút thư thái tuyệt vời tại đây để bóc tách hạt giống, nắn nót viết nhãn mác, sắp xếp lại đám chậu gốm nhỏ. Để nghỉ ngơi, ông ngồi trên một chiếc hòm gỗ trước cửa lều, tha hồ vạch ra các kế hoạch tôn tạo cảnh quan.
Ông tạo ra hai bồn hoa phong lữ ngay dưới chân bậc thềm; giữa những cây bách lùn và cây tỉa hình bắp sợi, ông trồng thêm hoa hướng dương; do các luống hoa phủ kín hoa mao lương vàng rực, còn mọi lối đi đều trải lớp cát mới, mảnh vườn làm người ta lóa mắt bởi sắc vàng tràn ngập khắp nơi.
Khốn nỗi, luống ủ ấm lại nhung nhúc ấu trùng; dẫu đã rải các lớp lá khô sưởi ấm bên dưới khung kính sơn màu và chuông kính bôi phấn, đám cây trồng mọc lên vẫn còi cọc thảm hại. Cành giâm không đâm rễ; mối ghép bong ra; dòng nhựa của cành chiết ngưng chảy, rễ cây bị nấm trắng gặm nhấm; đám hạt giống gieo xuống chỉ đem lại nỗi tiêu điều. Cơn gió lớn ác hại quật đổ các cọc chống đậu cô ve. Lượng bùn ao quá nhiều làm hỏng hết các luống dâu tây, việc thiếu cắt tỉa làm cà chua mọc lộn xộn.
Thất bại hoàn toàn với bông cải xanh, cà tím, củ cải; ngay cả cải xoong thủy sinh ông muốn nuôi trong cái chậu gỗ lớn cũng chết rũ. Sau đợt băng tan, toàn bộ lứa atisô đều hỏng sạch.
Những cây bắp cải đã an ủi ông. Đặc biệt có một cây cho ông nhiều hy vọng. Nó xòe lá, vươn cao, rốt cuộc biến thành một con quái vật khổng lồ và hoàn toàn không thể nuốt nổi. Chẳng sao hết! Pécuchet vẫn thấy thỏa lòng vì sở hữu được một sinh vật kỳ dị.
Thế là ông dấn thân vào thứ mà ông coi là đỉnh cao của nghệ thuật làm vườn: trồng dưa hấu.
Ông gieo hạt của mấy giống dưa khác nhau vào những chiếc đĩa chứa đầy đất màu, đem vùi sâu vào luống ủ ấm. Rồi ông dựng thêm một luống ủ khác; khi luống đất bốc hơi nóng, ông bèn đánh đám cây non đẹp nhất ra trồng riêng, úp chuông kính lên trên. Ông tiến hành bấm ngọn cắt tỉa tuân thủ nghiêm ngặt giáo điều của nhà làm vườn bậc thầy, nâng niu từng bông hoa, để mặc cho quả kết hình, ông chọn giữ lại một quả duy nhất trên mỗi nhánh rồi thẳng tay ngắt bỏ hết số còn lại; vừa khi quả dưa to bằng quả hạch, ông lén luồn một tấm ván nhỏ xuống dưới vỏ quả để ngăn nó thối rữa do tiếp xúc với phân tươi. Ông phun nước, thông gió, dùng khăn tay lau sạch lớp sương mù bám trên chuông kính; hễ thấy bóng mây đen kéo đến, ông vội vàng khuân đám chiếu rơm ra che đậy.
Đêm đến, ông mất ăn mất ngủ. Thậm chí mấy bận ông choàng tỉnh dậy; chân trần xỏ vào đôi bốt, mình bận chiếc áo sơ mi, người run cầm cập, ông băng qua khắp mảnh vườn để đem tấm chăn bông trên giường ngủ ra đắp lên các khung bạt che dưa.
Đám dưa Cantaloupe chín tới.
Bổ quả đầu tiên, Bouvard nhăn mặt chê bai. Quả thứ hai cũng chẳng khá hơn, quả thứ ba cũng vậy; Pécuchet ra sức tìm đủ lý do ngụy biện cho từng quả một, cho đến quả cuối cùng thì ông thẳng tay vứt qua cửa sổ, tuyên bố bản thân chẳng hiểu ra làm sao cả.
Hóa ra, do ông canh tác các giống dưa khác nhau nằm sát sạt bên nhau, giống dưa đường đã lai tạp với giống dưa vườn, giống Bồ Đào Nha quả lớn trộn lẫn với giống Đại Mogol; lại thêm việc mấy gốc cà chua kế bên làm đảo lộn trật tự, kết quả sinh ra thứ quả lai quái thai có vị hệt như bí ngô.
Thế là Pécuchet chuyển hướng sang trồng hoa. Ông viết thư cho Dumouchel để xin mấy gốc cây bụi cùng hạt giống, đặt mua một lượng đất thạch nam rồi kiên định bắt tay vào việc.
Ngặt một nỗi, ông lại đem trồng cây lạc tiên vào chỗ râm mát, trồng hoa bướm dưới ánh nắng chang chang, phủ phân chuồng lên các khóm hoa dạ lan hương, tưới nước cho hoa ly sau khi chúng đã tàn hoa, làm chết sạch đám hoa đỗ quyên do chặt tỉa quá tay, dùng keo da trâu kích thích hoa lồng đèn và làm cháy sém một cây lựu khi hong nó trước lửa bếp.
Gần đến mùa chuyển lạnh, ông che chắn các gốc hồng dại dưới những chiếc vòm bằng giấy cứng có quét lớp mỡ nến; trông chúng hệt như những chóp đường dựng đứng giữ trên không bằng những chiếc cọc. Cọc đỡ hoa thược dược trông khổng lồ; đứng giữa những đường thẳng tắp ấy, người ta nhác thấy những cành cây uốn éo của một gốc hòe Nhật Bản vẫn đứng trơ trơ, chẳng héo rũ mà cũng chẳng chịu đâm chồi.
Tuy vậy, những giống cây quý hiếm nhất vẫn phát triển tốt tươi trong các khu vườn nơi thủ đô, lẽ nào lại thất bại ở vùng Chavignolles này? Pécuchet bèn lùng mua giống tử vi Ấn Độ, hồng Trung Quốc và cả cây bạch đàn, thứ cây đang ở đỉnh cao danh tiếng lúc bấy giờ. Mọi cuộc thử nghiệm đều hỏng ăn. Lần nào ông cũng lấy làm kinh ngạc vô cùng.
Bouvard cũng va phải những trở ngại tương tự như bạn mình. Hai ông bàn bạc qua lại, giở cuốn sách này, chuyển sang cuốn sách khác, rồi chẳng biết đường nào mà lần trước những ý kiến trái ngược nhau đôm đốp.
Chẳng hạn, về việc bón đất bằng bùn vôi, Puvis nhiệt liệt khuyên dùng, nhưng cuốn cẩm nang Roret lại kịch liệt phản đối. Về thạch cao bón ruộng, bất chấp tấm gương của Franklin, Rieffel và ông Rigaud có vẻ chẳng mấy mặn mà.
Chuyện bỏ hoang đất, theo ý Bouvard, là một định kiến lỗi thời từ thời Gothic. Vậy mà Leclerc lại chỉ ra những trường hợp việc bỏ hoang gần như bắt buộc. Gasparin dẫn chứng một người vùng Lyon suốt nửa thế kỷ chỉ canh tác một thứ ngũ cốc trên cùng một thửa ruộng; điều đó lật nhào toàn bộ lý thuyết luân canh vụ mùa. Tull ca tụng việc cày sâu cuốc bẫm xem nhẹ phân bón; thế mà thiếu tá Beatson lại đòi dẹp bỏ phân bón lẫn cày bừa!
Để đoán biết thời tiết, hai ông học cách xem mây theo phân loại của Luke-Howard. Hai ông ngắm nghía những làn mây trải dài như bờm ngựa, những đám mây trông giống hệt các hòn đảo, những khối mây dễ lầm tưởng là núi tuyết; họ cố phân biệt mây tích mưa với mây tầng, mây tầng với mây tích; song hình dáng mây chuyển biến liên tục trước khi hai ông kịp tìm ra tên gọi thích hợp.
Chiếc áp kế đánh lừa hai ông; nhiệt kế chẳng cho biết điều gì; hai ông bèn viện đến phương kế do một vị linh mục vùng Touraine nghĩ ra dưới thời Louis XV. Một con đỉa thả trong lọ thủy tinh sẽ bò lên trên nếu trời chực mưa, nằm im dưới đáy khi trời nắng ráo và động đậy liên tục lúc giông bão đe dọa. Nhưng bầu khí quyển hầu như lúc nào cũng làm ngược lại phản ứng của con đỉa. Hai ông thả thêm ba con nữa vào chung một lọ. Cả bốn con hành xử hoàn toàn khác nhau.
Sau bao đêm suy đi tính lại, Bouvard nhìn nhận bản thân đã sai lầm. Điền trang của ông đòi hỏi lối canh tác quy mô lớn, hệ thống thâm canh chuyên sâu; ông bèn liều lĩnh tung nốt số vốn liếng còn lại: ba vạn franc.
Được Pécuchet khích bác, ông đâm ra cuồng phân bón. Trong hố phân compost, hai ông chất đầy cành cây, máu động vật, lòng mề, lông vũ, bất cứ thứ gì ông lùng sục được. Ông dùng dung dịch dưỡng của Bỉ, phân lỏng Thụy Sĩ, nước tro, cá trích muối khô, tảo biển, giẻ rách, đặt mua phân chim guano, rồi tự tìm cách chế tạo; ông đẩy nguyên lý của mình đến tận cùng, không chấp nhận lãng phí một giọt nước tiểu nào; ông phá bỏ hẳn khu nhà vệ sinh. Người ta kéo xác súc vật chết vào sân nhà ông để ông đem ủ phân bón ruộng. Đám xác thối rữa bị xẻ thịt phơi bày rải rác khắp vùng quê. Bouvard nhoẻn miệng cười giữa bầu không khí hôi thối nồng nặc ấy. Một chiếc bơm lắp trên xe bò phun phân lỏng xối xả vào các luống cây ruộng. Thấy ai có vẻ buồn nôn ghê tởm, ông kêu lên: “Vàng cả đấy! Vàng cả đấy!”. Ông còn tiếc hùi hụi vì chưa có thêm nhiều phân bón. Thật diễm phúc cho những quốc gia có các hang động tự nhiên chứa đầy phân chim!
Vụ cải dầu mọc lên còi cọc, hắc mạch ở mức trung bình; còn lúa mì bán ra rất mất giá do ám mùi hôi thối. Một điều kỳ lạ là gò Butte sau khi dọn sạch đá cuội lại cho thu hoạch kém hơn hẳn ngày trước.
Ông nghĩ cần phải đổi mới toàn bộ công cụ. Ông sắm một chiếc máy cày Guillaume, một chiếc máy bừa Valcourt, một chiếc máy gieo hạt kiểu Anh và cỗ cày lớn của Mathieu de Dombasle. Gã đánh xe buông lời chê bai công cụ mới.
"Hãy học cách dùng nó đi!"
"Giỏi thì ông chỉ cho tôi xem!"
Ông cố đứng ra chỉ dẫn, làm sai be bét, đám nông dân đứng quanh cười khúc khích.
Chẳng bao giờ ông đưa được đám gia nhân vào nền nếp theo hiệu lệnh chuông báo. Lúc nào ông cũng hò hét phía sau họ, chạy xộc từ nơi này sang nơi khác, hí hoáy ghi chép nhận xét vào cuốn sổ tay, hẹn gặp người này người nọ rồi quên bẵng đi; đầu óc ông sục sôi những ý tưởng kinh doanh công nghiệp. Ông tự hứa sẽ trồng cây thuốc phiện để luyện chế, và nhất là giống cây hoàng kỳ để bán dưới cái tên “cà phê gia đình”.
Để đàn bò chóng béo, cứ hai tuần ông lại cho trích máu chúng một lần.
Ông chẳng làm thịt một con lợn nào, cứ nhồi nhét cho chúng ăn hắc mạch muối. Chẳng mấy chốc chuồng lợn trở nên quá chật chội. Chúng chạy lung tung làm náo loạn khoảnh sân, húc đổ các bờ rào, cắn xé mọi người.
Giữa đợt nắng nóng gay gắt, hai mươi lăm con cừu bỗng dưng chạy vòng tròn cuồng loạn, rồi lăn ra chết sạch ít lâu sau đó.
Cùng tuần ấy, ba con bò đực trút hơi thở cuối cùng, hậu quả từ những ca trích máu của Bouvard.
Để diệt trừ lũ sâu sùng đất, ông nghĩ ra kế nhốt đàn gà vào một chiếc lồng có bánh xe, sai hai gã đàn ông đẩy xe bám theo sau lưỡi cày; trò đó làm gãy hết sạch chân đàn gà.
Ông nấu bia bằng cỏ sồi, đem phân phát cho đám thợ gặt thay cho rượu táo. Chứng đau bụng dữ dội bùng phát khắp trang trại. Trẻ con khóc lóc om sòm, đàn bà rên rỉ than vãn, đàn ông đùng đùng nổi giận. Bọn họ đồng loạt dọa bỏ việc; Bouvard đành nhượng bộ chịu thua.
Tuy nhiên, để thuyết phục bọn họ về tính an toàn của thứ thức uống do mình nấu, ông bèn ngửa cổ tu liền tù tì vài chai ngay trước mặt họ; ông cảm thấy ruột gan cồn cào đau đớn, nhưng cố giấu giếm nỗi đau bằng vẻ mặt hân hoan tươi vui. Ông thậm chí còn khuân thứ hỗn hợp ấy về nhà riêng. Tối đến, ông cùng Pécuchet ngồi uống, cả hai cố sức khen ngon. Dù sao thì cũng không được phép lãng phí của trời.
Cơn đau bụng quặn thắt của Bouvard trở nên quá dữ dội, mụ Germaine đành chạy đi tìm bác sĩ.
Đó là một người đàn ông nghiêm nghị, vầng trán lồi; ông ta vừa mở lời đã làm người bệnh khiếp vía. Ông ta bảo chứng thổ tả nhẹ của ông ắt hẳn do thứ bia mà thiên hạ đang đồn đại khắp vùng. Ông ta muốn biết thành phần công thức, rồi buông lời chê bai bằng các thuật ngữ khoa học kèm theo cái nhún vai đầy khinh miệt. Pécuchet, người cung cấp công thức nấu bia, đâm ra tủi hổ ê chề.
Bất chấp những đợt bón vôi tai hại, những vụ làm cỏ bị cắt xén và đợt làm sạch cỏ dại sai thời điểm, năm sau, Bouvard lại có một vụ lúa mì đẹp đẽ hiện ra trước mắt. Ông nghĩ ra kế sấy khô lúa bằng phương pháp lên men kiểu Hà Lan, hệ thống Clap-Mayer; nghĩa là ông cho gặt toàn bộ lúa cùng một lúc, chất thành những đống lớn, chờ khi khí ga thoát ra thì dỡ tung đám đống lúa ấy đem phơi ra giữa trời; làm xong xuôi, Bouvard ra về lòng chẳng chút lo âu mảy may.
Trưa hôm sau, khi hai ông đang dùng bữa thì nghe tiếng trống đánh dồn dập vang lên dưới rặng cây dẻ gai. Mụ Germaine chạy ra ngoài xem có chuyện gì; nhưng gã đánh trống đã đi xa; gần như ngay lập tức, tiếng chuông nhà thờ điểm liên hồi vang lên dữ dội.
Nỗi lo âu thắt chặt lòng Bouvard và Pécuchet. Hai ông nhỏm dậy, sốt ruột muốn biết sự tình, bèn để đầu trần rảo bước chạy về phía làng Chavignolles.
Một bà lão đi ngang qua. Bà chẳng rõ chuyện gì. Hai ông giữ một đứa bé lại, nó đáp: "Cháu tưởng có cháy?" Tiếng trống vẫn tiếp tục điểm dồn, tiếng chuông gióng lên càng lúc càng to. Cuối cùng, họ chạm tay vào những ngôi nhà đầu tiên của làng. Gã bán tạp hóa hét lớn từ đằng xa:
"Cháy ở nhà các ông đấy!"
Pécuchet rảo bước chạy theo nhịp thể dục; ông giục Bouvard cũng đang chạy cùng tốc độ bên cạnh: "Một, hai; một, hai; đúng nhịp vào!", hệt như lính biệt kích vùng Vincennes.
Con đường hai ông đang đi cứ dốc ngược lên mãi; sườn đất chắn ngang tầm mắt che khuất đường chân trời. Hai ông lên tới đỉnh dốc, sát gò Butte; ngay lập tức, cảnh tượng tai ương hiển hiện mồn một trước mắt.
Mọi đống lúa mì rải rác khắp nơi đang bốc cháy ngùn ngụt như những ngọn núi lửa, ngay giữa cánh đồng trơ trụi trong buổi chiều lặng gió.
Xung quanh đống lúa lớn nhất có chừng ba trăm con người tụ tập; dưới sự điều hành của viên thị trưởng Foureau mình đeo băng ba màu, đám thanh niên dùng sào dài và móc sắt cào rơm từ trên đỉnh xuống nhằm bảo toàn phần còn lại.
Bouvard trong cơn hớt hải suýt chút nữa húc đổ bà Bordin đang đứng đó. Rồi nhác thấy một gã gia nhân của mình, ông buông lời chửi rủa thậm tệ vì gã không báo trước cho ông. Gã gia nhân phân bua ngược lại, do quá sốt sắng nên trước tiên gã đã chạy về nhà, ra nhà thờ, rồi đến nhà tìm ông lớn, sau đó mới quay lại bằng con đường khác.
Bouvard mất hết trí khôn. Đám gia nhân vây quanh ông, ai cũng tranh nhau nói; ông cấm không cho dỡ các đống lúa, van nài mọi người cứu giúp, đòi nước, đòi gọi lính cứu hỏa!
"Ở đây làm gì có lính cứu hỏa!" – Viên thị trưởng hét lên.
"Tại ông hết!" – Bouvard nạt lại.
Ông nổi trận lôi đình, buông những lời lẽ bất nhã; ai nấy đều khâm phục tính nhẫn nại của viên thị trưởng Foureau, một kẻ vốn tính thô lỗ cộc cằn, lộ rõ qua bờ môi dày cùng chiếc quai hàm như hàm chó ngao.
Hơi nóng từ các đống lúa tỏa ra hừng hực, không ai còn có thể tiến lại gần. Dưới làn lửa thiêu rụi, đám rơm xoắn lại phát ra những tiếng nổ lép bép, hạt lúa mì bắn tung tóe vào mặt mọi người đau như làn đạn chì. Rồi đống lúa sụp xuống đất thành một đống lửa lớn, tàn lửa bay tứ tung; những vệt sáng gợn sóng lăn tăn trên khối đỏ rực ấy, sắc màu chuyển biến xen kẽ nhau, có chỗ hồng rực như son, có chỗ lại thẫm màu như máu đông. Đêm đã buông; gió thổi mạnh; những luồng khói cuồn cuộn bao phủ lấy đám đông; chốc chốc một tàn lửa lại vút qua nền trời đen kịt.
Bouvard trân trân nhìn đám cháy, nước mắt khẽ lăn dài. Đôi mắt ông híp lại dưới bờ mi sưng húp; toàn bộ khuôn mặt như giãn ra vì nỗi đau đớn. Bà Bordin vừa mân mê dải tua rua trên chiếc khăn choàng màu xanh lá của mình, vừa cất tiếng gọi "ông bạn nghèo tội nghiệp", ra sức vỗ về ông. Bà khuyên rằng sự đã rồi thì phải biết chấp nhận thực tế.
Pécuchet không rỏ một giọt lệ nào. Mặt ông tái mét hay đúng hơn là xám ngoét như xác chết, mồm há hốc, tóc bết chặt vì dòng mồ hơi lạnh toát, ông đứng tách ra một góc, chìm đắm trong suy nghĩ của riêng mình. Đúng lúc ấy, vị linh mục đột ngột xuất hiện, khẽ khàng thủ thỉ bằng giọng ngọt xới:
"Ôi! Thật là một tai họa, quả thực vậy; thật đáng tiếc biết bao! Xin hãy tin rằng tôi cũng chia sẻ nỗi đau này!…"
Đám người còn lại chẳng mảy may lộ vẻ thương xót. Họ vừa trò chuyện vừa mỉm cười, tay chìa ra trước đống lửa sưởi ấm. Một lão già nhặt mấy cọng rơm đang cháy để mồi tẩu thuốc. Đám trẻ con bắt đầu nhảy múa tung tăng. Một thằng ranh con thậm chí còn hét lớn trò này vui ra phết.
"Ừ! Vui gớm nhỉ!" – Pécuchet nghe thấy bèn nạt lại.
Ngọn lửa dịu dần. Các đống rơm hạ thấp xuống; một giờ sau, nơi đây chỉ còn trơ lại những đống tro tàn tạo thành các vệt đen tròn trịa trên cánh đồng. Lúc này đám đông mới giải tán.
Bà Bordin và linh mục Jeufroy tiễn hai ông Bouvard và Pécuchet về tận nhà.
Dọc đường đi, bà góa buông những lời trách móc dịu dàng với người hàng xóm về tính khí hoang dã của ông; vị chức sắc tôn giáo bày tỏ sự ngạc nhiên tột cùng vì bấy lâu nay chưa được diện kiến một con chiên ưu tú đến nhường này trong giáo khu của mình.
Lúc còn lại hai người với nhau, hai ông ra sức tìm kiếm nguyên nhân vụ cháy; thay vì thừa nhận giống như mọi người rằng đám rơm ẩm đã tự phát hỏa, họ lại nghi ngờ có kẻ mưu hại báo thù. Kẻ đó ắt hẳn là lão Gouy, hoặc biết đâu là gã bẫy chuột chũi? Sáu tháng trước, Bouvard từng khước từ lời mời làm việc của gã, thậm chí còn khẳng định trước đám đông thính giả rằng nghề nghiệp của gã gây họa cho mùa màng, chính phủ cần ra lệnh cấm. Kẻ đó kể từ dạo ấy cứ lảng vảng quanh vùng. Gã để bộ râu rậm rạp, trông thật gớm ghiếc dưới mắt hai ông, đặc biệt là vào buổi tối khi gã xuất hiện bên rìa khoảnh sân, tay lắc lắc chiếc sào dài treo lủng lẳng xác những con chuột chũi.
Thiệt hại là vô cùng to lớn; để nắm rõ tình cảnh hiện tại của mình, Pécuchet suốt một tuần liền vùi đầu vào đống sổ sách của Bouvard, thứ trông hệt như một mê cung đích thực. Sau khi đối chiếu nhật ký, thư từ và cuốn sổ cái chằng chịt những dòng ghi chép bằng bút chì cùng ký hiệu tham chiếu, ông tìm ra sự thật phũ phàng: chẳng có hàng hóa nào để bán, không có khoản tiền nào để thu về, còn trong két sắt thì con số không tròn trĩnh; số vốn liếng ban đầu hiện thâm hụt tới ba mươi ba ngàn franc.
Bouvard chẳng chịu tin vào điều đó, hai ông bắt tay vào tính toán lại tới hơn hai mươi lần. Kết quả cho ra vẫn y nguyên một kết luận. Cứ tiếp tục lối canh tác nông nghiệp kiểu này thêm hai năm nữa, toàn bộ gia sản của hai ông sẽ tiêu tán sạch bách!
Biện pháp duy nhất là bán sạch.
Ít nhất cũng phải tham vấn ý kiến của một công chứng viên. Việc đi lại thật quá phiền lòng; Pécuchet đứng ra gánh vác.
Theo nhận định của ông Marescot, tốt nhất là không nên dán áp phích rao bán làm gì. Ngài sẽ trực tiếp tiếng bắn tin về trang trại cho những khách hàng nghiêm túc, rồi chờ đợi đề xuất của bọn họ.
"Hay lắm!" – Bouvard nói. – "Chúng ta còn khối thời gian!"
Ông tính chuyện thuê một gã tá điền mới; sau đó tính tiếp. Hai ông sẽ chẳng khốn khổ hơn ngày trước đâu; có điều từ nay bắt buộc phải thắt lưng buộc bụng tiết kiệm!
Khoản tiết kiệm này làm Pécuchet bực bội vì vướng bận chuyện vườn tược; vài ngày sau, ông lên tiếng:
"Chúng ta nên chuyên tâm vào nghề trồng cây ăn quả, không phải để giải trí mà là để đầu cơ sinh lời! Một quả lê vốn chỉ ba xu, có khi bán được ở thủ đô tới năm sáu franc đấy! Đám nhà vườn kiếm được hai mươi lăm ngàn livre tiền lãi từ những vườn mơ! Ở Saint-Pétersbourg vào mùa đông, người ta trả hẳn một đồng Napoléon cho một chùm nho đấy! Đó là một ngành công nghiệp béo bở, anh phải công nhận chứ! Mà chi phí tốn kém gì đâu? Chút công chăm sóc, ít phân bón và một đường dao tỉa!"
Pécuchet làm Bouvard mê muội đầu óc, ngay lập tức hai ông lùng sục trong sách vở danh mục các loại cây giống cần mua; chọn được những cái tên nghe thật kêu, họ liền gửi thư cho một nhà vườn ở Falaise, gã này sốt sắng cung cấp ngay ba trăm gốc cây vốn chẳng tìm được nơi tiêu thụ.
Hai ông gọi một gã thợ khóa đến làm cọc đỡ, một gã thợ kim khí làm dây siết, một gã thợ mộc làm giá đỡ. Hình dáng các cây đã được phác thảo từ trước. Những thanh nan gỗ gắn trên tường phác hình cây nến nhiều nhánh. Hai chiếc cột dựng ở hai đầu luống hoa kéo căng những sợi dây sắt theo chiều ngang; trong vườn cây ăn quả, những chiếc vòng tre định vị cấu trúc hình chiếc bình, những chiếc cọc ráp thành hình nón định vị hình kim tự tháp; thành thử ai bước vào nhà hai ông cũng ngỡ đang ngó nghiêng các bộ phận của cỗ máy lạ lùng nào đó, hoặc bộ khung của một màn pháo hoa.
Hố đào xong xuôi, hai ông chặt phăng phần đầu của mọi rễ cây, bất kể tốt xấu, rồi đem vùi chúng vào đống phân compost. Sáu tháng sau, đám cây giống chết rũ sạch bách. Lại đặt hàng mới với nhà vườn, lại tiến hành trồng mới vào những chiếc hố đào sâu hơn nữa! Nhưng rồi trận mưa lớn làm đất đai nhão nhoét ra, mối ghép tự lún sâu xuống đất làm cây cối tự cắm rễ hỏng giống.
Mùa xuân tới, Pécuchet bắt tay vào việc cắt tỉa mấy gốc lê. Ông không chặt ngọn, giữ nguyên các nhánh quả; ông cứ khăng khăng muốn uốn vuông góc những cây giống nữ tước vốn dùng để tạo thành hàng cây một nhánh, thành thử ông làm gãy hoặc nhổ bật gốc chúng liên tục. Còn về cây đào, ông đâm ra rối bời giữa cành mẹ cấp một, cành mẹ cấp hai và cành mẹ cấp ba. Những khoảng trống và chỗ rậm rạp cứ hiện ra vô tổ chức ngay tại những nơi không cần thiết; ông chẳng cách nào tạo được một hình chữ nhật hoàn hảo trên giàn uốn với sáu nhánh bên phải và sáu nhánh bên trái, chưa tính hai nhánh chính, toàn bộ tạo thành một hình xương cá đẹp đẽ.
Bouvard cố sức điều khiển đám cây mơ. Chúng phản kháng lại ông. Ông chặt phăng thân cây sát mặt đất; chẳng có cây nào thèm mọc lại. Những cây anh đào bị ông rạch những vết cắt bắt đầu ứa mủ cao su.
Ban đầu hai ông cắt tỉa cành quá dài làm thui chột đám mắt cây ở gốc, sau đó lại cắt quá ngắn khiến cành vượt mọc lởm chởm; họ thường xuyên đắn đo vì chẳng phân biệt nổi đâu là nụ chồi, đâu là nụ hoa. Hai ông từng khấp khởi mừng thầm khi thấy hoa nở rộ; nhưng nhận ra sai lầm của mình, họ bèn bẻ gãy tới ba phần tư số hoa để tập trung nuôi dưỡng phần còn lại.
Lúc nào hai ông cũng mở miệng là bàn về dòng nhựa, lớp tầng sinh mạch, chuyện buộc cành, bẻ nhánh, tỉa mắt. Ngay giữa phòng ăn, hai ông treo một chiếc khung lồng danh sách đám cây non của mình, kèm theo số thứ tự tương ứng ghi trên mảnh gỗ cắm dưới gốc cây ngoài vườn.
Thức dậy từ lúc tinh mơ, hai ông lao động cật lực đến tận đêm khuya, chiếc túi đựng dây buộc thắt ngang hông. Vào những buổi sáng mùa xuân lạnh giá, Bouvard vẫn bận chiếc áo dệt kim bên trong chiếc áo blouse, Pécuchet khoác chiếc áo bọc cũ dưới tấm vải thô; người đi đường dọc theo ô cửa chấn song thưa nghe rõ tiếng hai ông ho hen sù sụ trong màn sương mù dày đặc.
Đôi khi Pécuchet rút cuốn cẩm nang từ trong túi ra; ông đứng nhìn chằm chằm nghiên cứu một đoạn văn, tay chống chiếc xẻng bên cạnh, tạo dáng hệt như gã nhà vườn vẽ trên trang bìa cuốn sách. Vẻ ngoài giống nhau ấy làm ông vô cùng đắc ý. Ông đâm ra tôn kính tác giả cuốn sách hơn hẳn.
Bouvard thì liên tục leo trèo trên chiếc thang cao trước những cây hình kim tự tháp. Một hôm, ông bỗng váng đầu chóng mặt; chẳng dám leo xuống, ông hò hét om sòm gọi Pécuchet chạy tới cứu giúp.
Cuối cùng mấy quả lê cũng lộ diện; vườn cây ăn quả bắt đầu cho trái mận. Thế là hai ông vận dụng mọi ngón nghề được khuyến cáo để chống lại lũ chim trời. Nhưng những mảnh gương soi phản chiếu ánh sáng làm lóa cả mắt, tiếng lách cách của chiếc chong chóng gió làm hai ông chợt tỉnh giấc giữa đêm thâu; còn đám chim sẻ cứ vô tư đậu trên mình bù nhìn. Hai ông dựng thêm con thứ hai, rồi con thứ ba, thay đổi phục trang đủ kiểu mà chẳng ăn thua gì.
Dẫu vậy, hai ông vẫn có quyền hy vọng thu hoạch được vài trái cây. Pécuchet vừa đưa tờ ghi chép cho Bouvard thì sấm chớp đùng đùng nổi lên, mưa đổ xuống xối xả, một trận mưa nặng hạt và dữ dội. Từng cơn gió giật mạnh làm rung chuyển toàn bộ giàn cây uốn. Các cọc đỡ đổ rạp cái này đến cái khác; đám cây dáng thoi tội nghiệp chao đảo va đập vào nhau làm rụng sạch lê.
Pécuchet bị trận mưa bất chợt vây hãm bèn chạy vào ẩn nấp trong căn lều nhỏ. Bouvard trú chân trong gian bếp. Hai ông nhìn thấy trước mắt những mảnh gỗ, cành cây, mái ngói bay vèo vèo trong cơn lốc; vợ đám lính thủy đứng ngắm trùng khơi cách đó mười dặm cũng chẳng có ánh mắt căng thẳng và lồng ngực thắt chặt hơn hai ông lúc này. Thoắt cái, toàn bộ giá đỡ cùng các thanh giằng của giàn uốn và hàng rào lưới mắt cáo đổ sụp xuống các luống hoa.
Cảnh tượng thật thảm hại làm sao khi hai ông tiến hành kiểm tra! Những quả anh đào và mận nằm rải rác trên thảm cỏ xen lẫn những viên mưa đá đang tan chảy. Giống lê Passe-Colmar tiêu tùng sạch bách, chung số phận với giống Bési-des-vétérans và Triomphes-de-Jodoigne. Chẳng còn sót lại mấy quả táo giống Bon-Papa. Mười hai quả đào giống Tétons-de-Vénus, toàn bộ thành quả của mùa đào, lăn lóc trong các vũng nước bẩn bên cạnh những gốc cây hoàng dương bị bật rễ.
Sau bữa tối ăn uống chẳng được là bao, Pécuchet khẽ khàng bảo:
"Chúng ta nên ra trang trại xem có chuyện gì xảy ra không?"
"Ôi dào! Để lại rước thêm những chuyện đau lòng à!"
"Biết đâu đấy? Vì chúng ta có được trời thương đâu!"
Thế là hai ông quay sang oán trách Đấng bạo chúa và Mẹ Thiên nhiên.
Bouvard tì cùi chỏ lên bàn, miệng phát ra những tiếng thì thầm nho nhỏ; khi mọi nỗi đau tìm về gặp nhau, những kế hoạch nông nghiệp ngày trước lại trỗi dậy trong tâm trí ông, đặc biệt là xưởng tinh bột và một giống pho mát kiểu mới.
Pécuchet thở phì phò nặng nhọc; ông vừa nhét mấy mũi thuốc bột vào lỗ mũi vừa mơ mộng nếu số phận mỉm cười, giờ đây ông đã là thành viên của một hội nông học, tỏa sáng tại các cuộc triển lãm, được xướng tên trên các mặt báo.
Bouvard đưa ánh mắt sầu muộn nhìn quanh mình.
"Thề có Chúa! Tôi muốn tống khứ sạch sành sanh cái đống này đi để chuyển đến nơi khác lập nghiệp!"
"Tùy anh thôi," – Pécuchet đáp; rồi một lát sau ông tiếp lời: – "Các tác giả khuyên chúng ta nên triệt tiêu mọi kênh dẫn trực tiếp. Nhựa cây do đó bị cản trở, cây cối ắt hẳn chịu vạ. Để cây khỏe mạnh, tốt nhất là không nên để nó ra quả. Ấy thế mà những cây chẳng bao giờ cắt tỉa hay bón phân lại cứ ra quả đều đặn, quả nhỏ hơn thật đấy nhưng vị lại đậm đà hơn. Tôi đòi thiên hạ phải cho tôi một lời giải thích thỏa đáng! Đã vậy, không chỉ mỗi giống cây đòi hỏi cách chăm sóc riêng biệt, mà từng cây cá thể cũng khác nhau tùy thuộc vào khí hậu, nhiệt độ và cả loạt thứ khác! Thế thì quy tắc nằm ở đâu cơ chứ? Và chúng ta có hy vọng gặt hái thành công hay lợi lộc gì không?"
Bouvard đáp lời bạn:
"Anh sẽ thấy trong sách của Gasparin rằng lợi nhuận không thể vượt quá một phần mười số vốn bỏ ra. Thế nên thà đem số vốn ấy gửi vào ngân hàng; sau mười lăm năm, nhờ lãi mẹ đẻ lãi con, số tiền sẽ tăng lên gấp đôi mà chẳng làm tổn hại đến khí chất con người."
Pécuchet cúi gục đầu.
"Nghề trồng cây ăn quả biết đâu cũng chỉ là một trò bịp bợm?"
"Hệt như nghề nông thôi!" – Bouvard nạt lại.
Tiếp đó, hai ông tự oán trách bản thân đã quá tham vọng; họ quyết định từ nay sẽ tiết kiệm công sức lẫn tiền của. Vườn cây ăn quả chỉ cần thỉnh thoảng tỉa cành là đủ. Giàn cây uốn bị dẹp bỏ, họ sẽ không trồng thay thế những cây đã chết; nhưng mặt đất sẽ lộ ra những khoảng trống vô cùng xấu xí, trừ phi chặt bỏ nốt những cây còn đứng vững. Phải ra tay thế nào đây?
Pécuchet phác thảo vài bản vẽ, ông lôi cả hộp dụng cụ toán học ra dùng. Bouvard đứng bên hiến kế. Họ chẳng tìm ra phương án nào vừa mắt. May thay hai ông tìm thấy trong tủ sách của mình tác phẩm của Boitard mang tựa đề Kiến trúc sư sân vườn.
Tác giả phân chia sân vườn thành vô số phong cách. Trước hết là phong cách sầu muộn và lãng mạn, nổi bật với hoa bất tử, những phế tích, mộ phần và một bức tượng dâng kính Đức Mẹ định vị nơi một vị bạo chúa ngã xuống dưới lưỡi gươm của kẻ ám sát; người ta cấu thành phong cách kinh dị bằng những mỏm đá chênh vênh, cây cối gãy đổ, căn lều bị thiêu rụi; phong cách ngoại lai đạt được bằng cách trồng những cây xương rồng Peru nhằm khơi gợi ký ức cho một kẻ viễn xứ hoặc khách lữ hành. Phong cách trang nghiêm phải phô diễn một ngôi đền hiến dâng cho triết học, giống như ở Ermenonville. Những cây tháp nhọn và khải hoàn môn định hình phong cách uy nghi; lớp rêu phong cùng hang động tạo nên phong cách huyền bí; một hồ nước tĩnh lặng làm nên phong cách mơ mộng. Thậm chí còn có cả phong cách dị thường, mà hình mẫu đẹp đẽ nhất từng xuất hiện tại một khu vườn vùng Württemberg; ở đó, người ta sẽ lần lượt bắt gặp một con lợn rừng, một vị ẩn sĩ, vài ngôi mộ cổ và một chiếc thuyền tự động rời bến đưa khách vào một mật phòng, nơi những vòi nước sẽ phun xối xả vào người ngay khi khách ngồi xuống chiếc ghế sofa.
Trước chân trời kỳ quan ấy, mắt Bouvard và Pécuchet như lóa đi. Phong cách dị thường có vẻ chỉ dành riêng cho các bậc vương tôn công tước. Ngôi đền triết học thì quá cồng kềnh choán diện tích. Tượng dâng kính Đức Mẹ chẳng mang ý nghĩa gì vì thiếu vắng kẻ ám sát; còn đám cây cối châu Mỹ thì giá cả quá đắt đỏ, thật tội nghiệp cho đám viễn xứ và khách lữ hành. Nhưng những mỏm đá thì khả thi, cũng như cây gãy đổ, hoa bất tử và lớp rêu phong; trong niềm phấn khích tăng tiến dần, sau bao bận mò mẫm thử nghiệm, với sự trợ giúp của một gã gia nhân duy nhất và một khoản kinh phí rẻ mạt, hai ông tự tạo cho mình một chốn dung thân độc nhất vô nhị khắp cả vùng.
Rặng cây trăn được chặt mở vài khoảng trống tạo lối nhìn sang lùm cây nhỏ chi chít các lối đi quanh co uốn lượn xếp thành hình mê cung. Nơi bức tường giàn uốn, hai ông muốn đục một cuốn vòm mở ra góc nhìn toàn cảnh phía sau. Vì phần bờ nóc tường không thể đứng lơ lửng trên không, kết quả tạo thành một vết rạn nứt khổng lồ với đống gạch vụn hoang phế đổ nát dưới đất.
Hai ông hy sinh vạt măng tây để xây vào đó một ngôi mộ kiểu Etrusca; nghĩa là một khối hộp vuông bằng thạch cao sơn đen, cao sáu bộ, có hình dáng hệt như một cái chuồng chó. Bốn cây thông nhỏ trồng nơi bốn góc sườn bên công trình này, phía trên sẽ đặt một chiếc hũ đựng tro cốt và khắc thêm dòng văn tự.
Ở phần còn lại của vườn rau, một kiểu cầu Rialto bắc ngang qua cái ao nhỏ, dọc bờ ao khảm những chiếc vỏ trai vỏ hến. Nền đất hút sạch nước, chẳng sao hết! Rồi đây lớp bùn sét sẽ hình thành giữ nước lại.
Căn lều nhỏ được cải biến thành một căn chòi mộc mạc nhờ những mảnh kính màu. Trên đỉnh gò trồng nho, sáu thân cây đẽo vuông vắn đỡ lấy chiếc mái bằng thiếc có các góc uốn cong ngược lên, toàn bộ công trình biểu thị một ngôi chùa kiểu Trung Hoa.
Hai ông lặn lội ra tận bờ sông Orne để chọn những khối đá granite, họ tự đập vỡ, đánh số rồi khuân vác lên xe bò chở về, sau đó dùng xi măng gắn kết các mảnh đá lại, xếp chồng khối này lên khối khác; ngay giữa thảm cỏ mọc lên một mỏm đá có hình thù hệt như một củ khoai tây khổng lồ.
Vẫn thiếu một chút chi tiết phía sau để hoàn thiện tính hài hòa của cảnh quan. Hai ông chặt phăng cây bồ đề lớn nhất trong rặng cây trăn (vốn dĩ nó cũng đã chết khô tới ba phần tư) rồi đặt nó nằm dài suốt chiều dài mảnh vườn, sao cho người ta lầm tưởng nó bị dòng lũ cuốn trôi về hoặc bị thiên lôi đánh gục.
Công việc hoàn tất, Bouvard đứng trên bậc thềm hét lớn vọng ra xa:
"Đứng đây! Trông rõ hơn hẳn!"
"Trông rõ hơn hẳn" – Tiếng vọng lại giữa không trung.
Pécuchet đáp lời ông:
"Tôi tới đây!"
"Tôi tới đây!"
"Chà! Có tiếng vọng này!"
"Tiếng vọng này!"
Cây bồ đề bấy lâu nay ngăn trở tiếng vọng hình thành; giờ đây nó lại được tiếp trợ bởi ngôi chùa Trung Hoa nằm đối diện kho thóc, có phần đầu hồi nhô cao hơn rặng cây trăn.
Để thử nghiệm tiếng vọng, hai ông bày trò hét lên những từ ngữ hài hước. Bouvard rống lên vài từ tục tĩu hoang dã.
Ông từng mấy bận lên Falaise với lý do nhận tiền nong; lần nào về ông cũng mang theo những gói nhỏ cất giấu trong tủ có ngăn kéo của mình. Pécuchet lên đường một buổi sáng để tới Bretteville và trở về rất muộn, tay xách chiếc giỏ mây giấu nhẹm dưới gầm giường.
Sáng hôm sau tỉnh giấc, Bouvard vô cùng ngạc nhiên. Hai cây thủy tùng đầu tiên nơi lối đi chính (vốn dĩ hôm qua còn có hình cầu tròn) nay đã mang hình dáng của những con công; một chiếc phễu giấy cùng hai chiếc cúc bằng sứ định vị phần mỏ và đôi mắt. Pécuchet đã dậy từ lúc tinh mơ; người run bần bật vì sợ bị phát giác, ông cắt tỉa hai cái cây theo kích thước của các phụ tùng do Dumouchel gửi tới. Suốt sáu tháng qua, những cây phía sau hai cây đó cũng mô phỏng theo hình kim tự tháp, hình khối lập phương, hình trụ, hình con hươu hay hình chiếc ghế bành. Nhưng chẳng thứ gì sánh nổi với cặp chim công, Bouvard thừa nhận điều đó kèm theo những lời tán dương nồng nhiệt.
Lấy cớ bỏ quên chiếc xẻng, ông kéo người bạn đồng hành vào trong mê cung. Bởi ông đã lợi dụng lúc Pécuchet vắng mặt để tự tay làm nên một công trình siêu phàm không kém.
Cánh cổng dẫn ra đồng ruộng được phủ một lớp thạch cao, trên đó xếp đặt ngăn nắp năm trăm chiếc nõ tẩu bằng gốm, tạo hình các nhân vật Abd-el-Kader, đám người da đen, lính Turco, những người đàn bà mình trần, móng chân ngựa và cả những chiếc đầu lâu cốt người!
"Anh đã hiểu nỗi sốt ruột của tôi chưa!"
"Tôi hiểu chứ!"
Trong cơn xúc động nghẹn ngào, hai ông ôm chầm lấy nhau.
Hệt như đám nghệ sĩ, hai ông có nhu cầu được thiên hạ tán thưởng; Bouvard tính chuyện mở một đại tiệc thết đãi dân làng.
"Coi chừng đấy!" – Pécuchet nhắc nhở. – "Anh sắp sa đà vào thói thết đãi tiệc tùng rồi. Hố sâu chôn tiền đấy!"
Tuy nhiên, việc vẫn được định đoạt.
Kể từ ngày chuyển đến vùng này sinh sống, hai ông luôn giữ khoảng cách sống biệt lập. Ai nấy vì muốn dò xét họ nên đều nhận lời mời, ngoại trừ bá tước De Faverges do phải lên thủ đô giải quyết công việc. Hai ông bèn mời ông Hurel, gã tổng quản của ngài bá tước để lấp chỗ trống.
Beljambe, gã chủ quán trọ vốn là cựu đầu bếp ở Lisieux, đảm nhiệm việc nấu nướng vài món chính. Gã cắt cử một gã chạy bàn tới giúp việc. Mụ Germaine gọi thêm mụ hầu gái chăn thả ở trang trại về. Marianne, cô hầu gái của bà Bordin cũng tới hỗ trợ. Từ bốn giờ chiều, cánh cổng sắt đã mở toang, hai vị gia chủ lòng đầy sốt ruột đứng ngóng đợi quan khách.
Gã Hurel dừng chân dưới rặng cây dẻ gai để chỉnh đốn lại chiếc áo khoác. Kế đến, vị linh mục rảo bước tiến lại gần, mình bận chiếc áo chùng mới toanh; một lát sau viên thị trưởng Foureau xuất hiện với chiếc áo ghi lê bằng nhung. Viên bác sĩ dìu cánh tay người vợ đang bước đi nặng nề dưới bóng chiếc ô che nắng. Một vạt ruy băng màu hồng rung rinh phía sau họ; đó là chiếc mũ của bà Bordin, bà bận chiếc váy lụa màu cổ bồ câu tuyệt đẹp. Sợi dây chuyền vàng của chiếc đồng hồ bỏ túi đập nhè nhẹ trên ngực bà, những chiếc nhẫn lấp lánh trên hai bàn tay đeo găng hở ngón màu đen. Cuối cùng viên công chứng lộ diện, đầu đội mũ Panama, mắt kẹp chiếc kính một mắt; chức vị hàn lâm chẳng thể dập tắt vẻ sành điệu của một gã đàn ông sành điệu trong gã.
Sàn phòng khách được đánh sáp trơn tuột, chẳng ai có thể đứng vững. Tám chiếc ghế bành bọc vải nhung Utrecht kê sát dọc theo bức tường, một chiếc bàn tròn đặt chính giữa đỡ lấy khay đựng rượu, phía trên bệ lò sưởi treo bức chân dung của thân sinh Bouvard. Những vệt xỉn dầu hiện ra ngược sáng làm méo mó khuôn miệng, đôi mắt như lé đi, chút nấm mốc nơi gò má càng làm tăng thêm vẻ chân thực cho bộ râu quai nón. Đám quan khách nhận xét cụ có nét giống gã con trai, bà Bordin bồi thêm khi nhìn Bouvard, rằng ngày trước cụ hẳn phải là một đấng nam nhi vô cùng bảnh bao.
Sau một giờ chờ đợi, Pécuchet thông báo họ có thể di chuyển vào phòng ăn.
Những chiếc rèm vải bạt trắng viền đỏ, hệt như rèm ngoài phòng khách, được kéo kín mít trước các ô cửa sổ; ánh nắng xuyên qua lớp vải hắt thứ ánh sáng vàng nhạt lên các tấm ván ốp tường, nơi vật trang trí duy nhất là một chiếc áp kế.
Bouvard xếp hai quý bà ngồi hai bên mình, Pécuchet đặt viên thị trưởng ngồi bên trái, vị linh mục ngồi bên phải; mọi người bắt đầu thưởng thức món hàu. Chúng sực mùi bùn ao. Bouvard vô cùng bối rối, buông lời cáo lỗi rối rít; Pécuchet bèn nhỏm dậy chạy thẳng vào bếp để gây một trận lôi đình với Beljambe.
Suốt loạt món đầu tiên bao gồm một con cá bơn xếp giữa món bánh patê vỏ nướng và món chim bồ câu hầm, câu chuyện xoay quanh lối nấu rượu táo. Sau đó họ chuyển sang bàn về các món dễ tiêu hay đầy bụng. Viên bác sĩ dĩ nhiên là người được tham vấn. Gã nhìn nhận sự việc bằng thái độ hoài nghi của một kẻ đã thấu triệt tận cùng ngõ ngách khoa học, dẫu vậy gã chẳng chấp nhận một lời phản bác nhỏ nào.
Cùng lúc với món thịt thăn bò, người ta rót rượu Burgundy. Rượu bị đục cặn. Bouvard đổ lỗi cho việc súc rửa chai lọ chưa kỹ, bèn cho khui thêm ba chai khác nhưng kết quả cũng chẳng khá hơn; ông bèn rót rượu Saint-Julien, thứ rượu rõ ràng còn quá non ngày; toàn bộ đám quan khách im hơi lặng tiếng. Gã Hurel nhoẻn miệng cười không ngớt; tiếng bước chân nặng trịch của gã chạy bàn nện sành sạch trên các phiến đá lát nền.
Bà Vaucorbeil vóc dáng lùn tịt, mặt mũi cau có (bà đang ở những tháng cuối của thai kỳ) giữ thái độ im lặng tuyệt đối. Bouvard chẳng biết gợi chuyện gì bèn nói về rạp hát ở Caen.
"Nhà tôi chẳng bao giờ đi xem hát cả," – Viên bác sĩ gạt đi.
Ông Marescot thời còn sinh sống ở Paris chỉ hay lui tới nhà hát Ý.
"Tôi thì," – Bouvard nói, – "đôi khi cũng mua một chỗ dưới tầng trệt rạp Vaudeville để thưởng thức mấy vở kịch tấu hài!"
Foureau quay sang hỏi bà Bordin có thích kịch tấu hài không.
"Còn tùy xem đó là loại kịch gì," – Bà đáp.
Viên thị trưởng buông lời trêu ghẹo bà. Bà đốp chát lại những lời bông đùa ấy. Kế đến, bà chỉ cho mọi người một công thức làm món dưa chuột muối. Vả lại tài nội trợ của bà vốn đã có tiếng khắp vùng, bà sở hữu một trang trại nhỏ được chăm nom vô cùng chu đáo.
Foureau hạch hỏi Bouvard:
"Thế ông có ý định bán trang trại của mình không?"
"Trời đất, cho đến giờ tôi cũng chưa biết tính sao…"
"Sao cơ! Ngay cả khoảnh đất Écalles cũng không bán à?" – Viên công chứng đỡ lời. – "Khoảnh đó rất hợp ý bà đấy, bà Bordin."
Bà góa đáp lại bằng điệu bộ ẻo lả:
"Giá cả của ông Bouvard chắc là chát lắm!"
Biết đâu người ta có thể làm ông mủi lòng.
"Tôi chẳng thèm thử đâu!"
"Ồ dào! Hay là bà hôn ông ấy một cái xem sao?"
"Thử một phen xem nào!" – Bouvard nói; rồi ông đặt hai cái hôn lên hai gò má bà trước tiếng vỗ tay tán thưởng của cả hội.
Gần như ngay sau đó người ta khui rượu champagne, tiếng nổ chát chúa làm niềm vui thích tăng lên gấp bội. Pécuchet ra hiệu. Những tấm rèm cửa mở toang, mảnh vườn hiển hiện mồn một trước mắt.
Dưới ánh hoàng hôn, cảnh tượng trông thật hãi hùng. Mỏm đá khổng lồ như một ngọn núi chiếm trọn thảm cỏ, ngôi mộ tạo thành một khối hộp vuông chình ình giữa vạt rau bina, chiếc cầu Venice tựa như một dấu mũ hếch lên trên đám đậu cô ve; căn lều phía xa biến thành một vệt đen lớn vì hai ông đã phóng hỏa đốt mái nhà để tăng phần thơ mộng. Đám cây thủy tùng tỉa hình con hươu hay chiếc ghế bành nối đuôi nhau kéo dài tận gốc cây bị sét đánh nằm vắt ngang từ rặng cây trăn sang giàn leo, nơi những quả cà chua lớn treo lủng lẳng như những khối thạch nhũ. Một cây hướng dương xòe chiếc đĩa vàng rực đây đó. Ngôi chùa Trung Hoa sơn đỏ chót tựa như ngọn hải đăng dựng trên gò trồng nho. Những chiếc mỏ công đón ánh nắng hắt lại những vệt lửa le lói; phía sau ô cửa chấn song thưa đã dỡ bỏ hết ván gỗ, cánh đồng bằng phẳng kéo dài tận đường chân trời kết thúc tầm mắt.
Trước nỗi ngỡ ngàng của quan khách, Bouvard và Pécuchet cảm thấy một niềm thỏa mãn khôn xiết.
Bà Bordin đặc biệt ngưỡng mộ cặp chim công. Nhưng ngôi mộ cổ thì chẳng ai hiểu nổi, cả căn lều cháy sém lẫn bức tường đổ nát cũng vậy. Rồi từng người một lần lượt bước qua cầu. Để đổ đầy nước vào ao, Bouvard và Pécuchet đã phải hì hục gánh nước suốt cả buổi sáng. Nước đã rò rỉ hết qua những khe đá lỏng lẻo dưới đáy, nay chỉ còn trơ lại lớp bùn ao bao phủ.
Vừa rảo bước ngắm nghía, người ta vừa buông những lời phê bình: “Vào địa vị ông tôi sẽ làm thế này”, “Mấy cây đậu Hà Lan muộn vụ quá”, “Xó này nói thẳng ra nhìn không được sạch sẽ”, “Cắt tỉa kiểu đó thì chẳng bao giờ có trái đâu”.
Bouvard đành phải gạt đi rằng ông chẳng thèm quan tâm đến trái cây làm gì.
Lúc đi dọc theo rặng cây trăn, ông đưa mắt láu cá nói:
"Ồ! Có người đang ở đây làm chúng ta quấy rầy rồi! Xin lỗi nhé!"
Lời bông đùa chẳng được ai hưởng ứng. Ai nấy đều nhẵn mặt pho tượng đàn bà bằng thạch cao ấy rồi!
Sau vài vòng quanh co trong mê cung, cả hội tiến đến trước cánh cổng gắn tẩu thuốc. Bọn họ trao nhau những ánh mắt kinh ngạc sững sờ. Bouvard chăm chú quan sát nét mặt của các vị khách, ông sốt ruột muốn biết nhận định của họ:
"Các vị thấy thế nào?"
Bà Bordin phá lên cười ngặt nghẽo; mọi người cũng hùa theo bà. Vị linh mục phát ra tiếng cười cục cục trong cổ, Hurel ho húng hắng, viên bác sĩ cười đến chảy cả nước mắt, vợ gã bỗng lên cơn co thắt thần kinh; còn Foureau, gã đàn ông bỗ bã chẳng kiêng nể gì, thẳng tay bẻ gãy một cái tẩu hình Abd-el-Kader nhét tọt vào túi áo làm kỷ niệm.
Khi ra khỏi rặng cây trăn, Bouvard muốn làm đám khách kinh ngạc bằng tiếng vọng bèn hét lớn hết cỡ:
"Kính chào! Các quý bà!"
Chẳng có gì đáp lại! Tiếng vọng mất tăm. Nguyên do là kho thóc vừa mới sửa sang, phần đầu hồi và mái nhà đã bị dỡ bỏ sạch bách.
Cà phê được dọn ra trên gò trồng nho; đám quan khách chuẩn bị bắt đầu ván chơi bi sắt thì chợt thấy phía đối diện, đằng sau ô cửa chấn song thưa, có một gã đàn ông đang trố mắt nhìn họ.
Gầy gò nhem nhuốc, bận chiếc quần đỏ rách tả tơi, khoác chiếc áo blouse xanh không có sơ mi bên trong, bộ râu đen cắt ngắn như bàn chải; gã cất giọng khàn khàn:
"Cho tôi xin một ly rượu!"
Viên thị trưởng và linh mục Jeufroy nhận ra gã ngay lập tức. Đó là một gã thợ mộc cũ của vùng Chavignolles.
"Thôi đi Gorju! Tránh ra chỗ khác!" – Ông Foureau nạt. – "Ở đây không có chỗ ăn mày."
"Tôi mà ăn mày à!" – Gã đàn ông đùng đùng nổi giận quát lớn. – "Tôi đã đi lính bảy năm chinh chiến bên châu Phi. Vừa mới ra viện xong. Chẳng có việc làm! Hay là muốn tôi phải đi làm tướng cướp? Mẹ kiếp!"
Cơn lôi đình của gã tự lắng xuống; gã chống hai tay vào hông, trố mắt nhìn đám thị dân bằng ánh mắt vừa sầu muộn vừa giễu cợt. Nỗi mệt nhọc nơi doanh trại, thứ rượu absinthe cùng những cơn sốt rét, toàn bộ một kiếp sống khốn cùng và trụy lạc phơi bày rõ mồn một trong đôi mắt mờ đục của gã. Bờ môi nhợt nhạt run rẩy làm lộ ra cả vạt lợi. Nền trời nhuộm đỏ au bao bọc lấy gã bằng thứ ánh sáng như vệt máu; vẻ ngoan cố đứng trơ trơ của gã làm dâng lên một nỗi khiếp sợ mơ hồ.
Bouvard muốn cho êm chuyện bèn vào nhà múc nốt chỗ rượu còn sót lại dưới đáy chai đem ra. Gã lang thang tu ực một hơi ngấu nghiến, rồi biến mất hút sau đám hắc mạch, tay chân vung vẩy loạn xạ.
Sau đó mọi người quay sang trách cứ ông Bouvard. Thói dung túng bừa bãi ấy chỉ tổ gây thêm rối loạn. Nhưng Bouvard sẵn nỗi bực dọc vì mảnh vườn thất bại bèn đứng ra bênh vực đám dân nghèo; thế là ai nấy đều tranh nhau nói một lúc.
Foureau ca tụng chính phủ đương thời. Hurel nhìn nhận thế gian này chẳng có gì ngoài bất động sản đất đai. Linh mục Jeufroy than vãn chuyện tôn giáo chẳng được che chở bảo hộ. Pécuchet lên tiếng công kích các khoản thuế khóa. Bà Bordin chốc chốc lại bù lu bù loa lên: "Về phần tôi, tôi ghét cay ghét đắng cái nền Cộng hòa!", còn viên bác sĩ tự tuyên bố bản thân đứng về phía tiến bộ. "Vì nói cho cùng, thưa ông, chúng ta cần những cuộc cải cách."
"Có thể lắm!" – Foureau đáp. – "Nhưng mọi tư tưởng kiểu đó chỉ làm hại chuyện làm ăn buôn bán thôi."
"Tôi cóc thèm quan tâm đến chuyện buôn bán!" – Pécuchet hét lên.
Vaucorbeil tiếp lời: "Ít nhất hãy mở rộng quyền bầu cử cho giới trí thức năng lực."
Bouvard chẳng tán đồng đến độ ấy.
"Ý ông là vậy sao?" – Viên bác sĩ vặn lại. – "Tôi hiểu rõ bụng dạ các ông rồi! Xin kính chào! Và cầu chúc cho một trận đại hồng thủy đổ xuống để các ông tha hồ chèo thuyền trong cái ao của mình nhé!"
"Tôi cũng xin cáo từ đây," – Ông Foureau lên tiếng một lát sau; ông ta chỉ tay vào túi áo nơi giấu cái tẩu hình Abd-el-Kader: – "Khi nào cần cái nữa, tôi sẽ quay lại."
Viên linh mục trước lúc ra về khẽ khàng rỉ tai Pécuchet rằng ông thấy việc dựng cái mô hình lăng mộ ngay giữa đám rau cỏ thật chẳng ra làm sao. Hurel cúi đầu chào rất thấp trước khi rút lui. Ông Marescot đã lặn mất tăm ngay sau món tráng miệng.
Bà Bordin lại bắt đầu lải nhải chi tiết công thức dưa chuột muối của mình, hứa hẹn sẽ cho thêm công thức thứ hai làm món mận ngâm rượu mạnh; bà còn rảo bước thêm ba vòng nơi lối đi chính; nhưng lúc đi ngang qua cây bồ đề đổ, vạt váy của bà bị vướng chặt vào cành cây; hai ông nghe rõ tiếng bà lầm bầm: "Trời đất! Thật là một cái cây ngu ngốc!".
Cho đến tận nửa đêm, hai vị gia chủ ngồi dưới giàn leo ra sức trút sạch nỗi bất bình oán hận của mình.
Đành rằng bữa tiệc cũng có đôi ba chi tiết nhỏ nhặt chưa được chu toàn; dẫu vậy đám quan khách đã nhồi nhét ngấu nghiến như lũ háu đói, chứng tỏ cỗ bàn chẳng đến nỗi nào. Còn về mảnh vườn, bao lời chê bai dè bỉu kia thảy đều xuất phát từ lòng ghen ăn tức ở thấp hèn của đám dân làng; cả hai ông cùng nóng máu lên:
"À! Ao thiếu nước chứ gì! Cứ đợi đấy, rồi đây người ta sẽ thả cả thiên nga lẫn cá vào cho xem!"
"Bọn họ phớt lờ chẳng thèm ngó ngàng đến ngôi chùa!"
"Chê phế tích nhìn không sạch sẽ đúng là cái nhìn của lũ đần độn!"
"Còn ngôi mộ là điều bất nhã! Sao lại bất nhã cơ chứ? Người ta không có quyền xây một ngôi mộ trên đất đai của mình à? Tôi thậm chí còn muốn được chôn cất ngay tại đó cơ đấy!"
"Đừng bàn chuyện gở gắm ấy nữa!" – Pécuchet gạt đi.
Rồi hai ông quay sang duyệt lại đám quan khách.
"Viên bác sĩ trông hệt như một gã hợm hĩnh thích làm bộ làm tịch!"
"Anh có thấy điệu cười khẩy của Marescot trước bức chân dung không?"
"Viên thị trưởng thật là một gã thô lỗ cư xử kém! Đã ăn uống nhà người ta thì phải biết tôn trọng những thứ kỳ công của gia chủ chứ, mẹ kiếp!"
"Còn bà Bordin?" – Bouvard hỏi.
"Hừm! Đó là một mụ đàn bà đầy mưu đồ quỷ quyệt! Để tôi yên."
Chán ghét thế thái nhân tình, hai ông quyết định không thèm dòm ngó đến mặt một ai nữa, chỉ sống khép kín tại nhà mình, vì bản thân mình mà thôi.
Thế là hai ông dành cả ngày dưới hầm rượu để cạo sạch lớp cặn bám trên chai lọ, đánh véc-ni lại toàn bộ bàn ghế đồ đạc, lau sáp bóng loáng các căn phòng. Mỗi tối, ngồi ngắm đống củi cháy, họ lại đem hệ thống sưởi ấm tối ưu ra mổ xẻ bàn luận.
Họ cố tự mình hun khói thịt đùi lợn, tự tay nấu nước tro giặt giũ để tiết kiệm chi phí. Mụ Germaine bị hai ông làm phiền lòng chỉ biết nhún vai ngán ngẩm. Đến mùa làm mứt, mụ đùng đùng nổi giận, hai ông bèn dọn hẳn ra gian lò bánh mà làm việc.
Đó là một gian giặt là cũ, nơi phía dưới đống củi khô có một cái bồn lớn bằng gạch kiên cố, vô cùng thích hợp cho các dự án của họ, bởi tham vọng chế tạo đồ hộp đang trỗi dậy trong lòng hai ông.
Mười bốn chiếc lọ thủy tinh được đong đầy cà chua và đậu Hà Lan; hai ông dùng vôi sống trộn pho mát để gắn chặt các nút bần, quấn thêm những dải vải nhỏ quanh mép lọ, rồi đem dìm tất cả vào nồi nước sôi sùng sục. Nước cạn dần; hai ông đổ thêm nước lạnh vào; nhiệt độ thay đổi đột ngột làm đám lọ thủy tinh nổ tung vỡ vụn. Chỉ có vỏn vẹn ba chiếc lọ là toàn mạng thoát nạn.
Tiếp đó, họ đem nhốt vào những chiếc hộp cá mòi cũ, nhét những miếng sườn bê vào trong rồi đem dìm vào nồi hấp cách thủy. Đám hộp lúc vớt ra tròn căng như quả bóng; họ tính bụng khi nguội đi chúng sẽ xẹp lại. Để tiếp tục cuộc thử nghiệm, họ đem nhốt vào những chiếc hộp khác đủ thứ trứng, cải xoăn, tôm hùm, món cá hầm và cả nước súp nữa! Hai ông tự tán dương bản thân đã giữ chân được các mùa vụ hệt như ông Appert; những phát kiến như vậy, theo ý Pécuchet, còn vượt xa chiến công của các bậc chinh phạt.
Họ cải tiến món dưa muối của bà Bordin bằng cách cho thêm tiêu vào giấm; còn món mận ngâm rượu mạnh của họ vượt trội hơn hẳn! Nhờ phương pháp ngâm kiệt, họ cất được các loại rượu mùi mâm xôi và ngải cứu. Dùng mật ong và bạch chỉ ngâm trong thùng gỗ vang Bagnols, họ muốn làm ra loại rượu Malaga; rồi họ tiến tới thử cả công thức sản xuất champagne! Những chai rượu Chablis pha thêm mật nho tự nổ tung tưng bừng. Nhưng điều đó chẳng khiến họ hoài nghi vào thành công sắp tới.
Các cuộc khảo cứu ngày một sâu rộng làm họ sinh lòng nghi ngờ thói gian lận lẩn khuất trong mọi thức đồ ăn thức uống.
Họ bắt bẻ gã thợ bánh về màu sắc của ổ bánh mì. Họ biến gã bán tạp hóa thành kẻ thù khi khăng khăng cho rằng gã pha tạp chất vào sô-cô-la. Họ lặn lội lên Falaise để mua kẹo dẻo táo tàu; rồi ngay trước mắt viên dược sĩ, họ đem thả miếng kẹo vào nước để kiểm định. Khối kẹo chuyển sang trạng thái hệt như bì lợn, bằng chứng tố cáo sự hiện diện của gelatin.
Sau chiến thắng đó, lòng tự cao của họ lên đến đỉnh điểm. Họ mua lại toàn bộ dụng cụ của một gã cất rượu phá sản; chẳng mấy chốc, trong nhà la liệt rây lọc, thùng gỗ, phễu, thìa hớt bọt, túi lọc và cân, chưa kể một chiếc cối đập bằng cối xay cầu và một lò chưng cất đầu Ma-rốc, thứ đòi hỏi phải có lò phản xạ kèm chụp khói lò sưởi.
Họ học cách tinh chế đường và các mức độ nấu đường: dạng hạt nhỏ, hạt lớn, dạng bọt, dạng viên, dạng kéo màng và caramel. Nhưng họ nóng lòng muốn dùng chiếc lò cất; họ bắt tay vào cất các loại rượu mùi cao cấp, bắt đầu bằng rượu hồi. Thứ chất lỏng hầu như lúc nào cũng cuốn theo các hợp chất hữu cơ, hoặc không thì chúng dính chặt vào đáy nồi; nhiều khi họ lại đong đếm sai liều lượng. Quanh họ, những chiếc chậu đồng lớn phản chiếu ánh sáng lấp lánh, các bình cầu thoi chìa ra chiếc vòi nhọn đâm ngang, những chiếc chảo nhỏ trang trí khắp các bức tường. Thường thì một người cặm cụi nhặt lá cây trên bàn, trong khi người kia lắc qua lắc lại quả cầu sắt trong chiếc cối treo lơ lửng. Họ đảo thìa, nếm thử các hỗn hợp.
Bouvard mồ hôi nhễ nhại, người chỉ mặc mỗi chiếc áo sơ mi cùng chiếc quần kéo tận lên lõm dạ dày bằng cặp đai đốm ngắn; nhưng vì trí óc lơ đãng như chim, ông hết quên lắp đĩa ngăn trong bình cất lại đến quạt lửa quá tay. Pécuchet lầm nhẩm tính toán, đứng bất động trong chiếc áo blouse dài, một kiểu áo khoác trẻ em có tay; họ tự coi mình là những bậc trí thức nghiêm túc đang dốc sức vào công việc hữu ích.
Sau cùng, họ mơ về một loại kem rượu sẽ đánh gục mọi loại rượu khác. Họ sẽ cho vào đó hạt ngò như trong rượu Kummel, rượu anh đào Maraschino, cây húng hisop như rượu Chartreuse, hạt xạ hương thảo như rượu Vespetro, thạch xương bồ như rượu Krambambuli; và nó sẽ được nhuộm đỏ bằng gỗ đàn hương. Nhưng nên đưa nó ra thị trường dưới tên gọi nào đây? Cần một cái tên dễ nhớ nhưng lại phải độc lạ. Sau hồi lâu tìm kiếm, họ quyết định đặt tên cho nó là rượu Bouvarine!
Vào khoảng cuối mùa thu, những vết mốc xuất hiện trong ba lọ đồ hộp còn sót lại. Cà chua và đậu Hà Lan đã thối rữa. Lỗi hẳn là do khâu đóng nút bần? Thế là bài toán đóng nút bần lại hành hạ họ. Để thử nghiệm các phương pháp mới, họ lại thiếu tiền. Trang trại đang ngốn sạch vốn liếng của họ.
Mấy bận có người đến đề nghị thuê đất. Bouvard nhất quyết không đồng ý. Thế nhưng gã tá công đứng đầu lại canh tác theo mệnh lệnh của ông với thói hà tiện tai hại, làm mùa màng sụt giảm, mọi sự dần suy sụp; họ đang bàn bạc về bước đường cùng thì lão tá điền Gouy bước vào phòng thí nghiệm, có người vợ rụt rè nép phía sau.
Nhờ những đợt canh tác xới đất mà đất đai đã tốt lên nhiều; gã muốn xin thuê lại trang trại. Gã buông lời chê bai đất đai. Bất chấp bao công sức của hai ông, lợi nhuận vẫn bấp bênh, tóm lại gã muốn thuê chỉ vì tình yêu quê hương và tiếc nuối những người chủ tốt đến thế. Người ta lạnh lùng từ chối gã. Tối hôm đó gã lại mò tới.
Pécuchet đã thuyết phục Bouvard; họ đành phải xuôi lòng; Gouy đòi giảm tiền thuê; thấy hai ông la ó, gã bắt đầu rống lên hơn là nói, thề thốt với Chúa, kể công mắc nạn, ca tụng công lao của mình. Khi bị ép phải đưa ra giá, gã chỉ cúi gục đầu chứ chẳng buồn trả lời. Lúc đó vợ gã, ngồi cạnh cửa với chiếc giỏ lớn trên đùi, lại bắt đầu lặp lại những lời phân bua tương tự, kêu cục tác bằng cái giọng the thét như con gà mái bị thương.
Rốt cuộc hợp đồng thuê đất cũng được chốt ở mức ba ngàn franc mỗi năm, giảm một phần ba so với trước kia.
Ngay tại chỗ, lão Gouy đề nghị mua lại toàn bộ nông cụ; và cuộc thương lượng lại bắt đầu.
Việc định giá đồ đạc kéo dài suốt nửa tháng. Bouvard mệt lả cả người. Ông buông tay bán tháo với một số tiền rẻ mạt tới nỗi Gouy ban đầu phải trố mắt kinh ngạc, rồi reo lên: "Thỏa thuận thế nhé!", đoạn đập mạnh tay vào lòng bàn tay ông.
Sau đó, theo phong tục, các gia chủ mời khách ăn nhẹ một chút tại nhà; Pécuchet mở một trong những chai rượu Malaga của mình, không hẳn vì hào phóng mà vì hy vọng nhận được vài lời khen ngợi.
Nhưng gã nông dân nhăn nhó nói:
"Nó ngọt như si-rô cam thảo ấy,"
Và vợ gã, để trôi cái vị đó, xin một ly rượu mạnh.
Một chuyện nghiêm trọng hơn đang chiếm trọn tâm trí họ! Mọi nguyên liệu cho món rượu Bouvarine cuối cùng đã thu thập đầy đủ.
Họ trút tất cả vào bình cất cùng với cồn, nhóm lửa và ngồi chờ. Thế nhưng, Pécuchet bị dằn vặt bởi sự cố chai Malaga bèn lấy trong tủ ra những chiếc hộp thiếc, cạy nắp chiếc đầu tiên, rồi chiếc thứ hai, chiếc thứ ba. Ông giận dữ vứt chúng đi rồi gọi Bouvard.
Bouvard khóa van ống xoắn để lao về phía đám đồ hộp. Nỗi thất vọng thật não nề. Những lát thịt bê trông hệt như những chiếc đế giày luộc; một thứ chất lỏng bùn lầy thay thế cho tôm hùm; chẳng còn nhận ra món cá hầm đâu nữa. Nấm đã mọc lên trên bát súp; và một mùi hôi không thể chịu nổi xông lên nồng nặc khắp phòng thí nghiệm.
Thình lình, mang theo một tiếng nổ như đạn pháo, chiếc bình cất vỡ tung thành hai chục mảnh, bắn vèo vèo lên tận trần nhà, làm vỡ tung các nồi niêu, đập bẹp các thìa hớt bọt, đập tan tành các ly thủy tinh; than hồng văng tứ tung, lò nung bị phá hủy; và ngày hôm sau, mụ Germaine tìm thấy một chiếc xẻng trộn ngoài sân.
Sức mạnh của hơi nước đã làm gãy dụng cụ, nhất là khi thân nồi cất bị siết bu-lông chặt vào chỏm cất.
Pécuchet lập tức ngồi thụp xuống sau chiếc bồn lớn, còn Bouvard ngã gục trên chiếc ghế đẩu. Trong mười phút, họ giữ nguyên tư thế đó, không dám cựa quậy dù chỉ một chút, mặt tái mét vì khiếp sợ giữa đống mảnh vỡ. Khi thu hồi lại được giọng nói, họ hỏi nhau nguyên nhân của bao tai họa là gì, đặc biệt là tai họa cuối cùng này? Và họ chẳng hiểu nổi điều gì, ngoại trừ việc họ suýt chút nữa đã mất mạng. Pécuchet kết thúc bằng những lời này:
"Có lẽ là vì chúng ta chẳng biết gì về hóa học!"

(Tổng: 15617 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận