Tạ Thị Nam Chinh Ký
- Kim Vạn Trọng
- 6707 chữ
- 0
- 2026-09-30 14:52
Từ khi Lưu Hàn Lâm rời nhà đi xa, Kiều thị càng thêm buông thả phóng túng, lén lút tư thông với Đổng Thanh như vợ chồng thực thụ, không chút kiêng dè. Một hôm, ả bàn với Đổng Thanh:
"Nay Hàn Lâm đang đi tuần thú phương xa, Tạ thị cũng rời phủ đã lâu, đây quả là thời cơ chín muồi để hành động. Liệu chàng có kế sách gì trừ khử Tạ phu nhân tận gốc chăng?"
Ả độc phụ liên tục gặng hỏi mưu kế của tình nhân.
Đổng Thanh đắc ý hiến kế:
"Ta đã có diệu kế. Ta sẽ làm cho Tạ thị biến mất mà thần không biết quỷ không hay, phu nhân cứ yên tâm."
Gã ghé tai thầm thì bày ra mưu gian, Kiều thị nghe xong hân hoan ra mặt, vội giục:
"Mưu sâu của lang quân quả thực quỷ thần khó đoán, xin hãy lập tức ra tay."
Đổng Thanh gật đầu dặn dò:
"Ta có tên tâm phúc tên là Lãnh Trân, gã vô cùng mưu mẹo, lại hết mực nghe lời ta, giao việc này cho gã bảo đảm sạch sẽ gọn gàng. Ngặt nỗi, trước tiên phải lấy được món bảo vật mà Tạ thị trân quý làm vật làm tin, việc này e là hơi khó."
Kiều thị trầm ngâm hồi lâu, quả quyết đáp:
"Thiếp đã có cách. Con hầu Tuyết Mai bên cạnh Tạ thị vốn là em gái của Nạp Mai nhà ta. Thiếp sẽ dụ dỗ nó trộm món bảo vật ấy ra đây."
Sau khi định mưu, Nạp Mai lựa lúc vắng vẻ gọi em gái Tuyết Mai đến, mang vàng bạc châu báu ra dụ dỗ. Tuyết Mai mờ mắt vì tiền tài, liền buột miệng:
"Hộp trang sức của phu nhân cất trong phòng kín, nhưng phải có chìa khóa mới mở được. Mà nương nương cần món bảo vật đó làm gì?"
Nạp Mai buông lời đe dọa:
"Đừng hỏi nhiều, cũng tuyệt đối không được hé răng với ai. Nếu việc này bại lộ, cả hai chúng ta đều không toàn mạng."
Ả đưa cho em gái chùm chìa khóa của Kiều thị, dặn thử từng cái xem có vừa không, rồi nhấn mạnh phải trộm bằng được món bảo vật mà Lưu Hàn Lâm thường thấy và trân quý nhất.
Tuyết Mai giấu chùm chìa khóa mang đi, mở hòm báu trong phòng kín, trộm lấy chiếc ngọc chỉ hoàn đem về dâng cho Kiều thị, rồi tường tận kể rõ lai lịch:
"Chiếc nhẫn ngọc này là bảo vật gia truyền từ đời trước, đại nhân và phu nhân đều trân quý vô cùng."
Kiều thị mừng rỡ, ban thưởng hậu hĩnh cho Tuyết Mai rồi cùng Đổng Thanh chuẩn bị thi hành độc kế. Vừa vặn lúc này, gia nhân tháp tùng Tạ phu nhân từ quê nhà Tân Thành trở về, mang theo cáo phó Tạ Cấp sự phu nhân đã tạ thế.
Người gia nhân kính cẩn bẩm báo:
"Bên nhà họ Tạ không có con trai, lại chẳng còn thân thích ruột thịt nào gần gũi, nên phu nhân phải tự mình đứng ra lo liệu tang ma chu toàn. Phu nhân dặn tiểu nhân về nhắn lại với Kiều nương tử ở nhà gắng sức quán xuyến gia vụ."
Kiều thị nhận được cáo phó, liền giả bộ sai tỳ nữ Nạp Mai đến phúng viếng để tỏ lòng an ủi Tạ phu nhân, mặt khác lại thúc giục Đổng Thanh mau chóng tiến hành âm mưu hiểm độc.
2. Cuộc Gặp Gỡ Kỳ Lạ Ở Sơn Đông
Lưu Hàn Lâm khi ấy đang trên đường tuần thú đến vùng Sơn Đông, ghé vào một tửu điếm ven đường định dùng bữa. Chàng thấy một thanh niên bước vào, chắp tay hành lễ. Chàng đáp lễ, quan sát thấy vị thiếu niên này dung mạo vô cùng tuấn tú, khí vũ bất phàm, bèn cất tiếng hỏi danh tính.
Vị thiếu niên cung kính đáp:
"Tiểu nhân vốn sinh trưởng ở phương nam, tính danh là Lãnh Trân, nay mạo muội muốn được bái nghe cao danh đại tính của tiên sinh."
Lưu Hàn Lâm vì đang đi vi hành giám sát dân tình nên không tiện tiết lộ thân phận thật, bèn dùng tính danh giả để đối đáp, rồi thuận miệng hỏi han về tình cảnh khốn khó của bách tính nơi đây. Thấy lời lẽ của đối phương thông tuệ, sắc sảo, chàng thầm thán phục, lại gặng hỏi tiếp:
"Bậc hiền huynh nay định đi đâu? Ta nghe giọng huynh tuy là người phương nam nhưng lại nói rành rẽ tiếng kinh kỳ."
Lãnh Trân thở dài đáp:
"Tiểu nhân thân cô thế cô, như cánh chim phiêu bạt đông tây không nơi cố định. Tiểu nhân từng lưu lại kinh đô vài năm, mùa xuân năm nay mới đến huyện Tân Thành này ở nửa năm, nay đang trên đường hồi hương, chẳng ngờ lại được đồng hành cùng tiên sinh vài ngày, quả là mối duyên lành."
Lưu Hàn Lâm mỉm cười nói:
"Được vậy thì tốt quá. Ta đi đường một mình cũng đang lúc buồn bực, gặp được hiền huynh thật may mắn."
Chàng liền gọi thêm rượu thịt mời gã, đôi bên cùng ăn uống rồi kết bạn đồng hành.
Hai người bộ hành ngày đi đêm nghỉ, hoàng hôn buông xuống thì tìm quán trọ tá túc, gà gáy sáng lại tiếp tục lên đường. Đêm nọ, khi chuẩn bị nghỉ ngơi, Lưu Hàn Lâm vô tình nhìn thấy trên dải áo lót của vị thiếu niên có buộc một chiếc ngọc chỉ hoàn trông rất quen mắt. Chàng sinh nghi, nhìn kỹ lại càng thấy chiếc nhẫn ngọc ấy vô cùng quen thuộc, không khỏi nảy sinh lòng ngờ vực, bèn dò xét:
"Ta thuở trước từng được bậc cao nhân chỉ dạy nên cũng biết phân biệt ngọc thạch đôi ba phần. Chiếc ngọc chỉ hoàn này của hiền huynh trông không giống vật tầm thường, có thể cho ta thưởng lãm được chăng?"
Vị thiếu niên Lãnh Trân có vẻ hối hận vì để lộ bảo vật, ngập ngừng hồi lâu mới miễn cưỡng cởi dải áo trao nhẫn ngọc cho đối phương. Lưu Hàn Lâm đón lấy, săm soi kỹ lưỡng, thấy sắc ngọc, kiểu dáng cho đến hoa văn chạm khắc đều y hệt chiếc nhẫn ngọc của Tạ phu nhân ở nhà. Chàng càng thêm nghi hoặc, nhìn kỹ lại thấy trên nhẫn còn kết một nút Đồng Tâm bằng chỉ tơ xanh, lòng dạ thắt lại. Chàng liền hỏi gã:
"Quả là bảo vật hiếm thấy. Hiền huynh có được vật này từ đâu vậy?"
Lãnh Trân vờ lộ vẻ u sầu, lặng lẽ đón lấy nhẫn ngọc rồi buộc lại vào dải áo. Lưu Hàn Lâm nóng lòng muốn biết nguồn cơn, lại tiếp tục gặng hỏi:
"Chiếc nhẫn ngọc này hẳn phải gắn liền với một đoạn duyên phận sâu sắc, huynh nói cho ta nghe thì có ngại gì?"
Lãnh Trân im lặng hồi lâu mới mở lời:
"Khi tiểu nhân ở phương bắc, tình cờ được một người quen tặng cho, sao huynh lại gặng hỏi kỹ đến thế?"
Gã nhất quyết không muốn tiết lộ xuất xứ của bảo vật.
Lưu Hàn Lâm thầm nghĩ hay là có tên trộm nào lấy cắp nhẫn ngọc của phu nhân rồi bán lại cho người này, bèn kiên nhẫn chờ thời cơ dò hỏi nội tình. Trải qua nhiều ngày cùng đi đường, hai người dần trở nên thân thiết, chàng lại lựa lời hỏi han:
"Hiền huynh giấu kín lý do kết nút Đồng Tâm trên nhẫn ngọc, chẳng chịu hé răng, thế sao gọi là trọn tình bằng hữu đồng hành bấy lâu nay?"
Lãnh Trân ra vẻ bất đắc dĩ, thở dài nói:
"Mấy ngày qua tình nghĩa giữa ta và huynh đã sâu đậm, ta cũng không cần giấu giếm, nhưng đây là tín vật của người thương, xin huynh đừng cười chê."
Lưu Hàn Lâm hỏi:
"Có người thương sâu nặng như thế, sao huynh không cùng chung sống mà lại lặn lội về phương nam làm gì?"
Lãnh Trân than vãn:
"Người xưa nói ‘việc tốt lắm gian truân’, tạo hóa lại hay đố kỵ, đoạn duyên lành không có cơ hội lặp lại thì biết làm sao. Cổ nhân có câu bước chân vào chốn khuê môn sâu tựa biển khơi, đây lại là chuyện tình kín đáo giữa ta và nàng tiểu thư ấy, hỏi sao không đau đớn xót xa cho được?"
Gã cố tình lộ vẻ u sầu, thở ngắn thở dài như đang gánh chịu nỗi đau tình ái.
Lưu Hàn Lâm mỉm cười đáp:
"Nhưng ta lại thấy ghen tị với diễm phúc của hiền huynh đấy."
Hôm ấy, hai người cùng nhau uống say túy lúy, đến chiều ngày kế tiếp thì chia tay đường ai nấy đi.
Lưu Hàn Lâm tuy kết bạn đồng hành với Lãnh Trân, nhưng suốt mấy ngày đi đường vẫn chẳng rõ lai lịch thực sự của hắn. Huống hồ, chiếc nhẫn ngọc của Tạ phu nhân nay không rõ tung tích ra sao, chàng lại đang vi hành nơi Sơn Đông xa xôi, chẳng cách nào dò xét cho tỏ tường. Chàng thầm nghĩ:
"Trên đời này quả có lắm chuyện kỳ lạ. Hay là đám gia nhân trong phủ đã trộm chiếc nhẫn đem bán? Nhưng lời tự sự đầy tình cảm của gã thiếu niên kia về vật định tình của ý trung nhân rốt cuộc có ẩn ý gì?"
Lòng dạ chàng rối bời như tơ vò, trăm mối ngổn ngang.
3. Sóng Gió Nổi Lên Giữa Chính Đường
Lưu Hàn Lâm ôm nỗi ưu tư ấy suốt nửa năm trời, sau khi hoàn thành quốc sự mới lên đường trở về kinh kỳ. Lúc này, Tạ phu nhân cũng đã từ quê ngoại trở về phủ từ lâu. Nhận được tin nhạc mẫu tạ thế, chàng và phu nhân buồn bã khóc thương, làm lễ chịu tang. Sau đó, chàng đến gặp Kiều thị cùng hai đứa con trai là Trường Chi và Nhân Nhi để thỏa lòng mong nhớ. Tuy nhiên, trong lòng chàng vẫn canh cánh chuyện chiếc nhẫn ngọc của kẻ tên Lãnh Trân kia, bèn lựa lúc vắng người hỏi Tạ phu nhân:
"Chiếc nhẫn ngọc ngày trước nhạc phụ ban cho nàng, nay nàng cất giữ ở đâu?"
Tạ phu nhân đáp:
"Thiếp vẫn cất kỹ trong hòm trang sức, sao hôm nay đại nhân lại hỏi đến vật ấy?"
Lưu Hàn Lâm nghiêm mặt nói:
"Có chuyện kỳ lạ xảy ra nên ta muốn nhìn lại vật ấy."
Tạ phu nhân thấy làm lạ, liền sai tỳ nữ mang chiếc hòm vàng ra. Khi mở hòm kiểm tra, các món trang sức khác đều còn nguyên vẹn, duy chỉ có chiếc nhẫn ngọc kia là biến mất không dấu vết. Nàng giật mình kinh hãi, luống cuống nói:
"Rõ ràng thiếp đã cất trong hòm này, sao lại biến mất được!"
Gương mặt Lưu Hàn Lâm lập tức sa sầm, im lặng không nói lời nào. Tạ phu nhân càng thêm hoảng hốt, gặng hỏi:
"Đại nhân đã biết tung tích chiếc nhẫn ấy rồi chăng?"
Lưu Hàn Lâm đỏ mặt gắt lên:
"Nàng đem tặng cho nhân tình rồi còn quay sang hỏi ta là có ý gì?"
Tạ phu nhân nghe lời cáo buộc đầy bất ngờ của trượng phu, trong lòng vừa thẹn vừa sợ, uất nghẹn chẳng thể thốt nên lời. Vừa lúc đó, tỳ nữ vào báo có Đỗ phu nhân đến thăm. Lưu Hàn Lâm vội vàng ra nghênh đón cô ruột. Sau khi chào hỏi, Đỗ phu nhân ân cần hỏi han chuyện chuyến đi xa của cháu trai.
Lưu Hàn Lâm nén giận, hướng về phía Đỗ phu nhân thưa:
"Cháu đi vắng lâu ngày, không ngờ trong nhà lại xảy ra đại biến, đang tính sang bái kiến để thỉnh giáo cô, may sao cô lại đến."
Đỗ phu nhân kinh ngạc hỏi:
"Gia đình có biến cố gì lớn mà cháu lại nói như vậy?"
Lưu Hàn Lâm cố giữ bình tĩnh, tường thuật lại chuyện gặp gỡ gã thiếu niên Lãnh Trân, tận mắt thấy chiếc nhẫn ngọc và nghe những lời khoe khoang tư tình của gã. Khi về nhà tìm thì nhẫn ngọc quả nhiên đã mất. Chàng than vãn đây là nỗi nhục lớn của gia môn, không biết phải xử trí ra sao nên muốn xin ý kiến của cô.
Tạ phu nhân nghe xong những lời ấy thì hồn siêu phách lạc, nước mắt tuôn rơi, nghẹn ngào thưa:
"Nguyên do hành vi ngày thường của thiếp chưa đủ nghiêm cẩn nên mới để đại nhân nghi ngờ, gánh chịu nỗi hàm oan này, còn mặt mũi nào nhìn ai nữa. Thiếp không muốn và cũng không thể tự thanh minh, sống chết thế nào xin tùy đại nhân định đoạt. Nhưng cổ nhân có dạy, đấng quân tử sáng suốt không nghe lời sàm tấu, phải nghiêm trị kẻ ngậm máu phun người, xin đại nhân minh xét để thiếp không bị oan khuất."
Đỗ phu nhân nghe xong, lập tức biến sắc, nghiêm giọng quở trách Lưu Hàn Lâm:
"Trí tuệ của cháu nếu so với tiên phụ thì thế nào?"
Lưu Hàn Lâm hoảng sợ, cúi đầu đáp:
"Tài đức của cháu sao dám sánh với tiên phụ."
Đỗ phu nhân nghiêm nghị nói:
"Tiên phụ cháu có mắt nhìn người việc thiên hạ không gì không tường tận. Lúc sinh thời, người luôn ngợi khen Tạ thị là bậc liệt nữ hiếm có, đức hạnh chẳng kém người xưa. Hơn nữa, trước lúc lâm chung, người còn dặn dò ta phải bảo ban cháu vì cháu còn trẻ người non dạ, tránh để xảy ra sai sót. Người cũng khẳng định Tạ thị đoan trang mực thước, không có điều gì đáng ngại. Đó là vì tiên phụ cháu thấu hiểu sâu sắc phẩm hạnh cao khiết của con dâu nên mới dặn dò như vậy, đạo dạy con của người làm sao có thể xem nhẹ được? Dù không xét đến điều đó, phận làm con phải khắc ghi lời di huấn của cha, cớ sao cháu lại nghe lời sàm tấu mà nghi ngờ người vợ như sương như ngọc của mình? Việc này chắc chắn do kẻ ác trong nhà mưu hại Tạ thị, hoặc lũ tỳ nữ có kẻ gian dâm rồi trộm nhẫn ngọc ra ngoài. Cháu không lo điều tra cho rõ ràng, cớ sao lại ôm lòng nghi kỵ ngu muội như thế?"
Lưu Hàn Lâm cúi đầu thưa:
"Lời cô dạy chí phải."
Chàng lập tức hạ lệnh chuẩn bị hình cụ, áp giải đám tỳ nữ ra tra khảo nghiêm ngặt. Lũ tỳ nữ tội nghiệp dù có bị đánh chết cũng không biết gì mà khai, còn thủ phạm đích thực là Tuyết Mai biết rằng nếu nhận tội sẽ phải chết nên cắn răng chịu hình phạt, quyết không hé răng. Kết cục, cuộc điều tra không tìm ra hung thủ, Đỗ phu nhân đành bất lực ra về.
Tạ phu nhân vì chưa thể rửa sạch hàm oan nên tự chuyển xuống hạ đường, khép mình như kẻ có tội. Lưu Hàn Lâm do nghe quá nhiều lời gièm pha nên vẫn không nguôi lòng nghi ngờ vợ. Kẻ duy nhất vui mừng trong phủ lúc này không ai khác ngoài Kiều thị.
Kiều thị tìm gặp Lưu Hàn Lâm, giả vờ thủ thỉ:
"Tiên phụ ngày trước thường khen ngợi Tạ phu nhân, ví nàng với bậc liệt nữ ngày xưa, thành thử nàng ta đâm ra coi thường kẻ khác, thiếp đây phận làm thiếp sao dám làm điều gì sai trái để chuốc lấy nỗi nhục nhã, chê cười của thiên hạ. Theo ý thiếp, lời của Đỗ phu nhân rất có lý. Nhưng Đỗ phu nhân có phần thiên vị, chỉ hết lời ca ngợi Tạ thị mà trách phạt đại nhân quá lời, làm mất đi thể diện của ngài, thiếp nhìn mà thấy xót xa. Bậc thánh hiền ngày xưa còn có lúc bị che mắt, tiên phụ tuy anh minh nhưng Tạ thị về làm dâu không lâu thì người đã khuất núi, sao có thể thấu suốt được tâm địa của nàng. Lời di huấn lúc lâm chung chẳng qua là muốn cảnh tỉnh đại nhân mà thôi. Vậy mà Đỗ phu nhân lại vin vào cớ đó, ép đại nhân phải nghe theo Tạ thị trong mọi việc, chẳng phải là quá thiên vị hay sao?"
Lưu Hàn Lâm nghe vậy liền trải lòng với ả:
"Tạ thị ngày thường hành xử không có điều tiếng gì, ta vốn nghĩ nàng sẽ không phạm sai lầm lớn, nhưng chuyện này quả thực có nhiều điểm đáng nghi. Lần trước chuyện hình nhân yểm bùa có nét chữ giống hệt chữ của nàng, lúc ấy ta nghĩ có kẻ hãm hại nên đã cho đốt đi. Nhưng nay đến việc mất nhẫn ngọc trọng đại thế này, ta vô cùng lo lắng không biết sau này gia đình sẽ đi về đâu."
Độc phụ Kiều thị thấy thời cơ đã đến, liền gặng hỏi dồn:
"Vậy đại nhân định xử trí Tạ phu nhân ra sao?"
Lưu Hàn Lâm thở dài đáp:
"Hiện tại chưa có bằng chứng xác thực, không thể tùy tiện trách phạt. Hơn nữa nàng từng được tiên phụ yêu mến, lại cùng ta chịu tang ba năm, cô ruột lại hết lòng bênh vực, ta biết phải làm sao đây."
Thấy trượng phu còn do dự, Kiều thị lộ vẻ không vui, im lặng không đáp.
4. Thâm Độc Hại Con, Đoạt Vị Chính Thất
Ít lâu sau, Kiều thị lại mang thai đủ mười tháng rồi sinh hạ được một mụn con trai. Lưu Hàn Lâm mừng rỡ khôn xiết, đặt tên đứa trẻ là Phượng Sồ, yêu thương hai đứa con trai do ả sinh ra như báu vật trên tay. Nhân lúc trượng phu vắng nhà, độc phụ lén gặp Đổng Thanh để bàn mưu tính kế, lo lắng nói:
"Diệu kế lần trước quả thực rất hay. Người xưa có câu 'Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc', tiếp theo chúng ta nên làm gì đây? Huống hồ Đỗ phu nhân và Tạ thị vẫn đang ráo riết truy tìm tung tích chiếc nhẫn ngọc, nếu việc bại lộ thì biết làm sao?"
Đổng Thanh liền lên tiếng an ủi và hiến kế cho độc phụ:
"Mụ già họ Đỗ đang ra sức truy cứu vụ nhẫn ngọc, phu nhân hãy tìm cách ly gián, gây hiềm khích giữa hai cô cháu bọn họ."
Kiều thị thở dài đáp:
"Ta cũng muốn ly gián mối quan hệ giữa Đỗ phu nhân và Hàn Lâm, ngặt nỗi Hàn Lâm kính trọng Đỗ phu nhân như mẫu thân ruột thịt, mọi việc trong nhà đều nghe theo ý vị phu nhân ấy, kế này e là khó thành."
Đổng Thanh trầm ngâm một lát rồi nói:
"Nếu vậy thì tạm thời chưa có diệu kế ngay, chúng ta hãy thong thả bàn bạc tiếp."
Đôi gian phu dâm phụ ấy vẫn kiên trì nuôi dã tâm hãm hại Tạ thị đến cùng.
Trong khi đó, Đỗ phu nhân dù muốn rửa sạch hàm oan cho Tạ thị nhưng phái người đi dò hỏi khắp nơi vẫn không tìm được manh mối vụ mất nhẫn ngọc, trong lòng thầm nghĩ:
"Việc này chắc chắn do mưu gian của ả họ Kiều, ngặt nỗi chưa bắt được thóp nên không thể rêu rao, rốt cuộc phải làm sao đây?"
Giữa lúc vị phu nhân ấy đương rầu rĩ không yên thì con trai là Đỗ Ức được bổ nhiệm làm Tổng quản chốn Trường Sa phủ, lão phu nhân bèn quyết định theo con lên đường phó nhậm.
Đỗ phu nhân tuy đi theo con trai nhưng cứ nghĩ đến cảnh ngộ khốn khổ của Tạ thị lại đứng ngồi không yên. Ngày bà lên đường rời kinh, Lưu Hàn Lâm mở tiệc đưa tiễn long trọng tại phủ, song trên bàn tiệc lại không thấy bóng dáng của Tạ phu nhân. Đỗ phu nhân lòng dạ trĩu nặng, quay sang trách móc cháu trai:
"Từ khi anh trai ta khuất núi, ta và cháu nương tựa lẫn nhau. Nay bỗng chốc phải chia ly muôn dặm, ta có một lời muốn gửi gắm, cháu có bằng lòng nghe theo chăng?"
Lưu Hàn Lâm cung kính đáp:
"Cháu dù có bất tài cũng sao dám trái lời cô dạy. Xin cô cứ chỉ giáo."
Đỗ phu nhân nghiêm giọng:
"Ta muốn gửi gắm tương lai của Tạ thị cho cháu. Tính tình Tạ thị vốn nghiêm cẩn, dù chịu uất ức lớn cũng không chịu tự mình biện minh, nhìn lại càng thêm thương xót. Nhìn phẩm hạnh đoan chính ấy của Tạ thị, ta đoan chắc nàng vô tội, ngày làm rõ oan khuất không còn xa. Sau khi ta rời khỏi nhà này, nếu có lời gièm pha hay chuyện kỳ quái gì xảy ra, cháu quyết không được nhẹ dạ nghe theo. Nếu có chuyện chẳng lành, phải viết thư bàn bạc với ta trước, chờ ta cho ý kiến mới được định đoạt, chớ có hành động nông nổi để rồi hối hận về sau."
Lưu Hàn Lâm vội vàng thề thốt:
"Cháu xin ghi khắc lời cô dặn, tuyệt đối giữ đúng đạo nghĩa."
Đỗ phu nhân liền quay sang hỏi tỳ nữ hầu hạ:
"Tạ phu nhân đi đâu mà không thấy ở đây? Nếu nàng ngại không muốn ra tiền sảnh, hãy dẫn ta đến phòng nàng."
Tỳ nữ liền cung kính dẫn đường đưa Đỗ phu nhân đến nơi ở của Tạ thị. Khi bước vào phòng, bà thấy Tạ phu nhân tóc mây rũ rượi, gương mặt nhợt nhạt, thân hình gầy guộc yếu ớt như không gánh nổi sức nặng của xiêm y, cảnh tượng vô cùng thương tâm.
Đỗ phu nhân nhìn thấy cảnh ấy mà lòng đau như cắt. Tạ phu nhân đang lúc u sầu, vừa thấy cô đến liền mừng rỡ, vội vàng hành lễ chào hỏi, nghẹn ngào thưa:
"Nay gia đình cô được vinh hiển, lên đường phó nhậm nơi xa, tội thiếp đáng ra phải ra tiền sảnh tiễn biệt, ngặt vì thân mang đại tội, mang danh nhơ nhuốc muôn đời nên không dám diện kiến. Thiếp cứ ngỡ đời này chẳng còn cơ hội bái kiến cô nữa, không ngờ cô lại hạ cố ghé thăm chốn đơn sơ này, thiếp vô cùng cảm kích."
Đỗ phu nhân rơi lệ an ủi:
"Lúc tiên phụ cháu lâm chung, lời gửi gắm Lưu Hàn Lâm cho ta vẫn còn văng vẳng bên tai. Nay ta không bảo ban được cháu trai, để cháu dâu phải nông nỗi này, tất cả là lỗi của ta. Mai này nhắm mắt xuôi tay, ta còn mặt mũi nào gặp lại anh trai nơi chín suối. Nhưng cháu đừng quá đau buồn, mọi chuyện trên đời rồi sẽ sáng tỏ, vận tốt đến thì mây đen sẽ tan biến. Lũ tiểu nhân gian tà không thể mãi hãm hại người hiền, Lưu Hàn Lâm rồi sẽ nhận ra cái ngu muội của mình mà rửa sạch hàm oan cho cháu. Từ xưa đến nay, bậc anh hùng liệt nữ khi gặp buổi giao thời vận rủi đều phải chịu gian truân vất vả, cháu hãy nghĩ thoáng ra, đừng tự hủy hoại thân mình."
Đỗ phu nhân thở dài rồi nói tiếp:
"Nhà họ Lưu vốn là dòng dõi trung thần nghĩa sĩ, tuy kết oán với lũ tiểu nhân gian ác nên chịu nhiều tổn hại, nhưng gia phong trước nay vẫn thanh bạch. Từ khi tiên đại tạ thế, trong nhà liên tục xảy ra biến cố kỳ quái, chung quy cũng vì con hầu độc ác kia đã che mờ lý trí của cháu trai ta. Dạo gần đây ta thấy hành vi của Lưu Hàn Lâm không còn vẻ nhanh nhẹn, thanh cao như trước, lại ít khi bàn bạc gia sự với ta, tình cốt nhục cô cháu cũng vì thế mà phai nhạt. Ta thấy nó như bị ma quỷ che mắt, chỉ mong nó sớm ngày tỉnh ngộ, nhưng có lẽ phải đợi thời cơ đến mới phá tan được cơn mê muội này. Cháu dâu hãy xem đây là ý trời định sẵn, chớ nên suy nghĩ quá nhiều mà tổn hại tâm can."
Đỗ phu nhân dặn dò cặn kẽ trăm đường xong liền sai tỳ nữ gọi Lưu Hàn Lâm vào phòng. Bà nghiêm mặt nhìn cháu trai, nghiêm khắc răn dạy:
"Dạo gần đây ta thấy hành vi của cháu chẳng khác nào kẻ mất đi bản tâm, việc này thật khiến ta đau lòng xót dạ. Lời dặn dò của tiên phụ cháu trước lúc lâm chung về việc quán xuyến gia sự vẫn còn văng vẳng bên tai ta, nay ta bản tính tầm thường, trơ mắt nhìn cháu dâu Tạ thị đức hạnh vẹn toàn như băng như ngọc phải chịu hàm oan khốn khổ vì vận số không may, nay ta lại phải đi xa, lòng dạ nào an tâm cho đành. Lời ta dặn cháu trước mặt cháu dâu hôm nay, cháu phải ghi nhớ kỹ. Từ nay về sau, nếu trong nhà có kẻ hãm hại cháu dâu, hoặc xảy ra chuyện gì chẳng lành, cháu tuyệt đối không được nghi ngờ hay ghẻ lạnh Tạ thị, phải đợi ta trở về rồi mới xử lý. Cháu dâu là bậc tiết phụ đoan chính, quyết không làm điều gì sai trái. Thấy tình cảnh nguy ngập của nó lúc này, chân ta bước đi không đành. Cháu phận làm chồng phải tự biết cẩn trọng, chớ nghe lời sàm tấu của kẻ gian."
Lưu Hàn Lâm nhíu mày, quỳ sụp xuống đất, im lặng lắng nghe lời quở trách của cô ruột. Đỗ phu nhân thở dài một tiếng não ruột, dặn dò chuyện của Tạ thị thêm vài câu rồi quay người rời đi. Tạ phu nhân nhìn theo bóng dáng người bảo hộ lớn nhất của mình khuất dần nơi xa, không kìm được tiếng khóc nghẹn ngào.
Kiều thị lâu nay vốn xem Đỗ phu nhân như kẻ thù không đội trời chung, nay thấy bà theo con trai đi viễn xứ thì trong lòng mừng thầm, lập tức gọi Thập Nương đến bàn mưu:
"Mụ già họ Đỗ vốn là cái gai trong mắt ta nay đã đi xa, đây là cơ hội tốt nhất để chúng ta mau chóng hành động theo kế hoạch."
Thập Nương hoàn toàn tán thành, thúc giục tiến hành kế hoạch, liền gọi Nạp Mai đến bàn giao mưu kế cặn kẽ. Nạp Mai nghe xong liền tìm Tuyết Mai để bày trò ly gián.
Tuyết Mai nghe xong mưu kế độc ác ấy thì rùng mình, e ngại nói:
"Chuyện này hệ trọng vô cùng, chẳng phải nên bẩm báo trước với Kiều nương tử một tiếng hay sao?"
Con hầu muốn có được lời cam đoan chắc chắn từ chính miệng Kiều thị nên mới ra điều kiện như vậy. Nạp Mai thấy có lý, liền dẫn em gái đi gặp Kiều thị.
Tuyết Mai cúi đầu thưa:
"Nay nếu muốn đuổi Tạ phu nhân ra khỏi Lưu phủ, chỉ có cách ra tay kết liễu mạng sống của công tử Trường Chi, có như vậy đại nhân mới phẫn nộ tột cùng mà quyết định phế thê."
Kiều thị nghe lời hiến kế phải hy sinh chính khúc ruột của mình thì kinh hãi giật mình, phân vân nói:
"Ta căm ghét Tạ thị, dù làm chuyện tàn nhẫn thế nào cũng được, nhưng sao có thể đem mạng sống của đứa con trai yêu dấu ra làm vật tế thần? Đứa trẻ chết đi rồi thì ta sống sao cho nổi?"
Độc phụ lòng đầy ác niệm nhưng vẫn nghẹn lời, im lặng bất động.
Từ ngày Đỗ phu nhân đi xa, Lưu Hàn Lâm càng không còn nơi nương tựa, ngày đêm chỉ biết ở trong Bách Tử đường vui vầy cùng Kiều thị. Nghe tin con trai Trường Chi bệnh lâu không khỏi, chàng vô cùng lo lắng, lệnh cho Nạp Mai và Tuyết Mai túc trực sắc thuốc hầu hạ. Thừa cơ hội ấy, Tuyết Mai lợi dụng tỳ nữ Xuân Phương bên cạnh Tạ phu nhân để nhờ sắc thuốc. Đến khi mang thuốc lên cho công tử Trường Chi uống, ả đã lén bỏ độc dược vào trong bát.
Mụ độc phụ Kiều thị vì muốn hãm hại người khác mà nhẫn tâm giết chết chính con đẻ của mình, trời xanh có mắt sao có thể làm ngơ trước tội ác tàn nhẫn muôn đời này. Đứa trẻ tội nghiệp Trường Chi vừa uống cạn bát thuốc độc, toàn thân lập tức sưng phù bầm tím, máu tươi từ thất khiếu tuôn ra xối xả. Đứa trẻ hét lên một tiếng đau đớn rồi tắt thở ngay tại chỗ.
Kiều thị và Lưu Hàn Lâm chứng kiến cảnh tượng ấy thì kinh hoàng bạt vía. Khi kiểm tra thi thể của Trường Chi, thấy rõ dấu hiệu trúng độc mà chết, Lưu Hàn Lâm sinh nghi, liền sai người mang bát thuốc thừa đổ cho con chó ăn thử. Con chó vừa liếm thuốc xong liền giãy đành đạch chết tươi.
Lưu Hàn Lâm chứng kiến cảnh ấy thì sắc mặt xám ngoét. Kiều thị thấy trượng phu như vậy liền khóc lóc thảm thiết, gào lên:
"Thiếp cả đời chưa từng kết oán với ai, cớ sao kẻ gian ác nào lại nhẫn tâm giết hại mẫu tử thiếp thế này!"
Ả vừa ôm lấy xác con gào khóc gọi tên Trường Chi, vừa quay sang cầu xin Lưu Hàn Lâm:
"Nếu đại nhân không tự tay đòi lại công lý cho con trai thiếp, thiếp thà liều mạng chết theo con cho xong!"
Lưu Hàn Lâm vội vàng ôm lấy an ủi Kiều thị, lập tức hạ lệnh bắt giữ toàn bộ tỳ nữ tả hữu để tra khảo nguồn gốc của bát thuốc độc. Tạ phu nhân nghe tin tỳ nữ Xuân Phương bị Tuyết Mai lừa gạt dẫn đến cái chết thảm khốc của Trường Chi thì kinh hãi, thở dài than thở:
"Mạng sống ngắn ngủi của Trường Chi thật đáng thương. Đứa trẻ vô tội lại gặp phải người mẹ tâm địa độc ác nên mới chịu kết cục thảm khốc thế này. Trớ trêu thay bát thuốc ấy lại do người của ta sắc, nỗi oan khuất này e là khó lòng rửa sạch, không biết tai họa lớn nào sắp giáng xuống đầu ta đây."
Lưu Hàn Lâm bước ra tây hiên, tập hợp toàn bộ gia nhân lại rồi hạ lệnh áp giải Nạp Mai và Tuyết Mai ra dùng đại hình tra khảo. Hai con hầu bị đánh đập dã man, thịt nát xương tan, máu chảy đầm đìa nhưng quyết không mở miệng nhận tội. Tuyết Mai vốn là tâm phúc của Kiều thị nên nghiến răng chịu đựng, nhất quyết không khai. Lưu Hàn Lâm bất lực, đành hạ lệnh giam giữ tất cả tỳ nữ vào ngục để chờ ngày chúng tự khai ra thủ phạm.
Đám tỳ nữ báo lại tin dữ ấy cho Tạ phu nhân, ai nấy đều khóc lóc thảm thiết. Tạ phu nhân nghe xong tuy kinh hoàng nhưng thầm hiểu ngày này cuối cùng cũng phải đến, điềm tĩnh dặn:
"Ta đã đoán trước sẽ có ngày xảy ra cơ sự này từ lâu, nay có gì phải kinh ngạc nữa. Đây có lẽ là số kiếp ta phải gánh chịu."
Sắc mặt nàng vẫn bình thản, không chút biến đổi, ung dung đón nhận tai ương.
5. Phế Thê Trục Xuất, Chiếm Giữ Chính Đường
Ngày hôm sau, các bậc trưởng bối trong tộc họ Lưu họp mặt đông đủ tại chính đường để bàn cách xử lý biến cố kinh hoàng của gia tộc. Tại đây, Lưu Hàn Lâm liệt kê toàn bộ tội trạng từ trước đến nay cùng những điểm đáng nghi của Tạ phu nhân. Tuy nhiên, mọi người vốn hiểu rõ bản tính hiền thục xưa nay của Tạ thị, lại từng nhận nhiều ân huệ của nàng nên ai nấy đều bàng hoàng kinh ngạc, không tin vào tai mình. Thấy vậy, Lưu Hàn Lâm khẳng định nhất định sẽ tìm ra bằng chứng xác thực, kêu gọi những ai biết rõ nội tình hãy dũng cảm đứng ra làm chứng vì đại cục của gia tộc. Ngặt nỗi chuyện thầm kín trong nội phủ người ngoài làm sao thấu tỏ, các trưởng bối liền đồng thanh lên tiếng:
"Việc này Hàn Lâm nên tự mình điều tra kỹ lưỡng rồi định đoạt, người ngoài như chúng ta làm sao dám lạm bàn. Lòng chúng ta chỉ mong cháu xử lý công minh, chính đại mà thôi."
Lời nói ấy vừa khéo ẩn ý bênh vực cho phẩm hạnh trong sạch của Tạ thị, đồng thời cũng tỏ ý không muốn dây dưa vào vụ bê bối rắc rối này.
Lưu Hàn Lâm thấy vậy liền chuẩn bị hương nến đến trước từ đường làm lễ. Chàng cùng các thân tộc dâng hương lễ bái, kính cẩn đọc bài văn tế cáo trình tội trạng của Tạ phu nhân trước anh linh tổ tiên.
"Duy tuế thứ Gia Tĩnh năm thứ ba mươi, ngày mồng... tháng..., hiếu chắt là Hàn Lâm học sĩ Lưu Diên Thọ kính cẩn dâng lễ vật, có lời thưa lên anh linh hiển tăng tổ khảo Văn Hiện các Thái học sĩ Văn Trung công phủ quân, hiển tăng tổ tỷ phu nhân họ Hồ, hiển tổ khảo Thái thượng khanh Lại bộ Thượng thư phủ quân, hiển tổ tỷ phu nhân họ Trịnh, hiển khảo Thái sư công Lễ bộ Thượng thư phủ quân, hiển tỷ họ Thôi.
Thiết nghĩ đạo phu thê đứng đầu ngũ luân, là cội nguồn của muôn phúc, từ đấng quân vương cho đến thứ dân có ai mà không cẩn trọng. Ôi xót thay, ả họ Tạ kia thuở mới về làm dâu họ Lưu, tiếng khen hiền đức vang xa, lễ tiết không chút sai sót, quả là diễm phúc của gia môn. Nhưng phàm sự ở đời có đầu mà không có đuôi, đức hạnh chẳng được như nhất, sau này hành vi của ả ngày càng phóng túng, ngạo mạn. Từ sau khi cùng ta chịu tang cha ba năm, ta ra làm quan xa nhà, ở phủ ả lại càng lộ rõ tâm địa âm mưu tráo trở. Lấy cớ mẫu thân lâm bệnh để về nhà ngoại, hành vi gian dâm của ả bị bại lộ, ta nghĩ ả bị kẻ xấu hãm hại nên vẫn rộng lòng cho lưu lại trong phủ.
Chẳng ngờ ả không biết hối cải, tội trạng phạm vào điều Thất xuất, anh linh tổ tiên quyết không thể dung thứ, ta e sợ dòng dõi họ Lưu bị tuyệt tự nên buộc phải trục xuất ả ra khỏi cửa. Tiện thiếp họ Kiều tuy chưa đủ lục lễ nhưng vốn là con nhà danh giá, học rộng tài cao, đủ tư cách gánh vác việc thờ phụng tổ tiên, nay ta quyết định lập Kiều thị làm chính thất phu nhân."
Lưu Hàn Lâm sau khi đọc xong bài văn tế liền sai tỳ nữ áp giải Tạ phu nhân đến trước từ đường làm lễ bốn lạy từ biệt tổ tiên. Nàng nước mắt đầm đìa như mưa tuôn. Các thân tộc đứng chờ ngoài cổng phủ chứng kiến cảnh phu nhân bị trục xuất khỏi nhà thì ai nấy đều rơi lệ xót thương. Vừa lúc đó, nhũ mẫu bế công tử Nhân Nhi bước ra, Tạ phu nhân đón lấy đứa con thơ vào lòng, đau đớn không nỡ rời xa, nghẹn ngào dặn con:
"Con ở lại đừng thương nhớ ta, phải sống cho thật tốt. Biết đâu sau này mẫu tử ta còn có ngày trùng phùng. Cổ nhân có câu chim mất tổ thì thân mình khó toàn, ta đi rồi phận con làm sao sống yên ổn được đây. Dẫu đôi ta có chết đi, chỉ mong đoạn duyên tình chưa trọn kiếp này sẽ được nối lại ở kiếp sau, cho chúng ta lại được làm tình mẫu tử."
Nỗi sầu muộn của Tạ phu nhân hóa thành giọt lệ máu tuôn rơi. Đứng trước cổng phủ bước chân không đành, nàng ôm con khóc lớn:
"Lúc tổ phụ con khuất núi, ta không thể đi theo hầu hạ người, nay vẫn kéo dài hơi tàn để gánh chịu cảnh nhục nhã này, hỏi sao không đau đớn xót xa cơ chứ!"
Nói đoạn, nàng trao đứa con trai yêu dấu Nhân Nhi lại cho nhũ mẫu rồi bước lên chiếc kiệu thô sơ như một phạm nhân chịu án tử. Ngồi trong kiệu, nàng vẫn cố thò tay qua rèm nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Nhân Nhi mà vỗ về, đến khi kiệu chuyển bánh mới đành buông tay. Đứa trẻ tội nghiệp thấy mẫu thân rời đi liền gào khóc thảm thiết, đòi chạy theo kiệu.
Tạ phu nhân vừa khóc vừa dặn dò nhũ mẫu phải chăm sóc chu đáo cho tương lai của Nhân Nhi, rồi chỉ mang theo một tên gia nhân hầu cận lặng lẽ rời đi. Lúc này tại Lưu phủ, âm mưu hiểm độc của Kiều thị đã thành công mỹ mãn, đám hầu cận của ả vui mừng hớn hở vì từ nay thiên hạ đã thuộc về phe mình. Lũ ấy tấp nập chuẩn bị đưa Kiều thị đến trước từ đường làm lễ dâng hương bái tổ.
Tiếng ngọc bội va vào nhau trên chiếc váy lụa đỏ thắm kêu leng keng thanh khiết, xiêm y lộng lẫy tỏa sáng rực rỡ, dung mạo của ả xinh đẹp kiều diễm tựa như tiên nữ giáng trần. Làm lễ tạ tổ tiên xong, ả chính thức ngồi vào vị trí chính thất phu nhân, tiếp nhận cái lạy chúc mừng của đám gia nhân trong phủ, rồi dõng dạc nói:
"Từ hôm nay ta sẽ quán xuyến toàn bộ gia vụ trong phủ này, hạ nhân đứa nào việc nấy phải hết sức cần mẫn, chớ có phạm sai lầm kẻo chịu phạt."
Nghe vậy, có khoảng tám chín tỳ nữ bước lên phía trước, cung kính bẩm báo với Kiều thị:
"Tạ phu nhân tuy đã bị trục xuất khỏi cửa, nhưng chúng nô tỳ hầu hạ nhiều năm qua đã nhận rất nhiều ân huệ của người. Nay may nhờ phu nhân rộng lòng cho phép, chúng tiểu tỳ xin được ra ngoài cổng phủ tiễn biệt người một lần cuối."
Kiều thị cười nhạt đáp:
"Đó là vì tình nghĩa chủ tớ của tụi bây, cớ sao ta lại ngăn cấm."
Được Kiều thị cho phép, đám tỳ nữ đồng loạt ùa ra ngoài cổng phủ, đuổi theo chiếc kiệu vừa đi được một đoạn xa mà khóc lóc thảm thiết. Tạ phu nhân ra lệnh dừng kiệu, xúc động dặn:
"Các ngươi còn nhớ đến ta mà ra tiễn biệt thế này, ta vô cùng cảm kích. Sau này ở lại phải tận tâm hầu hạ tân phu nhân cho tốt, chớ nên nhớ thương ta làm gì."
Nghe lời dặn dò ấy, đám tỳ nữ lại khóc òa lên, ôm lấy kiệu mà buồn thương khôn xiết.